VANEWS
Tin Cập Nhật :
Bài Mới

Written By BTV VANEWS on Thứ Năm, ngày 05 tháng 3 năm 2015 | 01:30

Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi.

Cảnh phân phát quà cho trẻ em dân tộc thiểu số

Buổi tối, ở quảng trường nhà thờ, nhạc disco được mở to hết cỡ, tiếng bass làm vạt áo rung bần bật. Các buổi sáng, du khách chen lấn nhau để xuống thung lũng "thăm quan" các bản, lượng iPad nhiều hơn số lợn con nằm vầy đất ven đường.

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi "cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn". Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch.

Đi du lịch là một sở thích khá mới của người Việt. Tới tận giữa những năm 1990, Sapa vẫn còn là một thị trấn xanh, yên tĩnh và thanh bình, du khách chủ yếu là người nước ngoài. Hồi đó, không có một người Kinh nào quan niệm leo lên đỉnh Phan Si Pang là một việc đáng làm, đấy là việc chỉ người Hmong “phải” làm để mưu sinh.

Cũng giống như ở phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ II, phong trào đi du lịch của người Việt dần dần lớn mạnh khi có đủ ba yếu tố hội tụ.

Thứ nhất, thu nhập đã vượt qua những nhu cầu tối thiểu. Thứ hai, quỹ thời gian rộng rãi hơn, người ta không phải đầu tắt mặt tối lo cho cuộc sống nữa. Thứ ba, cơ sở hạ tầng, nghĩa là phương tiện đi lại, dịch vụ khách sạn và ăn uống, đã tốt lên, để cho việc xê dịch không còn vất vả nữa.

Những yếu tố đó làm thay đổi thái độ của người ta với việc di chuyển, chuyển từ quan điểm “xểnh nhà ra thất nghiệp” tới chỗ coi việc ra khỏi nhà như một thú vui, một sự hưởng thụ.

Thậm chí, để thoát khỏi cái buồn chán của cuộc sống công sở hàng ngày ở một thành phố lớn, người ta còn tìm tới cái vất vả như một cuộc chạy trốn ngắn ngủi, tất nhiên bởi người ta biết là cái vất vả này là hữu hạn về mặt thời gian, và các rủi ro nằm trong vùng được kiểm soát. Các phong trào phượt, phong trào đạp xe, phong trào “leo Phan” ra đời.

Lũ lượt đi chơi

  Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó.
Giờ đây, tình hình đã khác hẳn. Năm ngoái có gần 4 triệu lượt người Việt đi du lịch nước ngoài, cộng với 40 triệu lượt khách nội địa, tổng lại là bằng một nửa dân số quốc gia. Nhìn xung quanh, ta thấy mỗi gia đình đều lên kế hoạch cho một vài chuyến đi trong năm. Với người Việt trung lưu, du lịch đã trở thành một sinh hoạt cơ bản, như mua sắm hay đi nhà hàng.

Khoảng khắc cho đồ đạc lên ô tô để lên đường bao giờ cũng là một trong những khoảnh khắc phấn khởi nhất của cả gia đình trong năm, và hình ảnh người bố trẻ lái xe trên xa lộ, người mẹ trẻ gọt hoa quả ở ghế bên cạnh, ở đằng sau là hai đứa con chụm đầu chơi iPad, truyền tải một trong những cảm giác sống viên mãn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ 21.

Du lịch là con ngỗng đẻ trứng vàng với nhiều địa phương, họ giàu có lên trông thấy nhờ vào nguồn thu từ du khách, nếu “giàu có" được đo bằng số lượng nhà cao tầng mới xây và số ô tô chạy trên đường. Cái mất mát thì không ai lượng hoá được. Thờ ơ hoặc không ý thức được mặt trái xấu xí của du lịch, phần lớn các chính quyền địa phương tiếp tục cổ suý vô điều kiện cho “ngành công nghiệp không khói” này như một hướng phát triển văn minh và tiến bộ.

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó. Chính sách này có thể được gói gọn trong một mục tiêu: càng nhiều khách càng tốt. Để tiếp tục với ví dụ Sapa: số lượng khách tới đây vào năm 1991 là 2 000.

Năm 2002, con số này là 60 000 người. Nhưng riêng trong đợt nghỉ Tết Nguyên đán 2015 vừa rồi số du khách đã là 50.000 người.

Sapa đang bị phá hủy vì cách làm du lịch?

Trong cuốn “Quá tải: kinh doanh du lịch bùng nổ”, tác giả Elizabeth Becker gọi du lịch là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo, một con dao hai lưỡi, hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách, nhưng cùng lúc cũng có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hoá và cộng đồng.

Số phận của các địa điểm du lịch tầm cỡ khác của Việt Nam cũng tương tự như Sapa. Ở vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên băng chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển.

Ở Phú Quốc, mùi nắng gió, mùi nước mắm, các đồn điền tiêu, những làng chài, tâm hồn và cá tính của hòn đảo, đang biến mất dần. Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kỳ nào khác.

Người ta xẻ rừng quốc gia để đặt vào đó các lâu đài nhái kiểu cổ tích châu Âu chóp nhọn loè loẹt xanh đỏ, những cây thông và bãi cỏ ôn đới lạ lẫm với khí hậu địa phương, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một “thiên đường" bê tông nhân tạo.

Du lịch đại trà là một hiện tượng toàn cầu, nhưng nó gây ra tác hại nhiều nhất ở các nước đang phát triển, vì sức chống cự của những nước này, cả từ nguồn lực tài chính lẫn trình độ quản lý yếu kém hơn. Ở Angkor Wat, gần đây các ngôi đền bắt đầu bị lún vì mực nước ngầm hạ thấp do mức tiêu thụ nước của các khách sạn liên tục tăng lên.

Ám ảnh nhất với tôi là Vang Viêng ở Bắc Lào. Nằm bên bờ sông Nam Song, được vây xung quanh bởi các dãy núi đá vôi trùng điệp, cái làng nhỏ duyên dáng và xinh xắn này bỗng nhiên trở thành nơi các thanh niên phương Tây tập kết để ăn chơi như không có ngày mai. Họ tụ tập ở các bar trải dài 4 km dọc bờ sông, ăn pizza trộn với cần sa, nốc whisky đựng trong các bát ô tô nhựa, nhảy nhót trong tiếng nhạc rầm rầm, rồi nằm trong xăm ô tô lao mình xuống nước xoáy để tiêu khiển. Sau mấy chục ca tử vong chỉ trong vòng một năm, chính phủ Lào phải ra tay dừng cuộc vui lại.

Mức sống chung cao lên, các đường bay giá rẻ ra đời, càng tạo điều kiện cho du lịch đại trà phát triển. Thậm chí, người ta bắt đầu dùng tới thuật ngữ “du lịch siêu đại trà" (mega-mass tourism) để mô tả hiện tượng này.

Đầu thế kỷ 21, Giáo hoàng John Paul II phê phán du lịch đại trà là một hình thức bóc lột mới, nó “biến văn hoá, các nghi lễ tôn giáo, và các lễ hội dân tộc thành những sản phẩm tiêu dùng” khi khách du lịch tìm tới những cái mới lạ một cách hời hợt và không muốn tiếp xúc thực sự với văn hoá bản địa.


Thật vậy, trong trường hợp Sapa, điều quan trọng nhất với các du khách là câu hỏi ăn lẩu cá hồi ở đâu và mua rượu táo mèo chỗ nào. Không ít người lên đây vì bạn rủ đi để “có người uống cùng cho khỏi buồn.” Văn hoá, thể hiện qua đám người dân tộc ăn mặc sặc sỡ và những cái ruộng bậc thang, sẽ chỉ là cái phông cho các bức selfie.

Chả ai bỏ công ra tìm hiểu về lịch sử, tín ngưỡng, xung đột xã hội, hoàn cảnh kinh tế của người dân ở đây. Có lẽ yếu tố “văn hoá" duy nhất mà khách quan tâm là cái chợ tình như là cái gì man di đáng yêu của “bọn nó”, nhưng đằng nào nó cũng biến mất từ nhiều năm nay rồi - cũng vì du lịch.

Đấy là chưa nói tới chuyện sắp tới sẽ có nhiều hội thảo, tập huấn, tổng kết, liên hoan v.v… được tổ chức ở Sapa, ngạch này gọi là du lịch - công việc (business tourism). Loại du khách này thường không đi cùng gia đình, nên chắc lúc đó sẽ mọc lên nhiều tiệm massage và karaoke thư giãn với các cô gái miền Tây Nam Bộ đổ về cạnh tranh với con gái địa phương.

Chầu rìa trên quê hương?

Nhìn những gì người ta đang tiếp tục làm với Sapa mà thấy đau lòng. Các khách sạn khổng lồ tám, chín tầng vẫn đang xẻ núi mọc lên, nhiều khi chỉ cách cái bên cạnh một con phố nhỏ, xe không quay được đầu.

Đảo qua một vòng trên báo chí, cũng thấy nhắc tới các “thách thức" du lịch ở Sapa, nhưng hoá ra đó chỉ là các vấn đề “cháy” phòng và khan hiếm chỗ đỗ xe. Chính quyền địa phương cam kết sẽ ưu tiên giải quyết để “Sapa ngày một vui hơn.”

  Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.
Cáp treo lên đỉnh Phan Si Pan cũng đang được thi công. Ở độ cao 3000 m, người ta đang phá đá để tạo ra một khu vực rộng gần 8 ha, một diện tích rất lớn ở độ cao chênh vênh đó. Quần thể ga đến sẽ có “khu dịch vụ du lịch, khu tham quan, công viên văn hoá tâm linh và một tượng Phật khổng lồ”.

Cáp treo có công suất 2000 người một giờ, nghĩa là khi đi vào hoạt động sẽ cho phép mười mấy nghìn người lên đỉnh núi mỗi ngày, quanh năm, ngày nào cũng như ngày nào, thay vì con số hiện nay chỉ là mấy chục người một ngày leo đường bộ, và chỉ trong 6 tháng mùa khô.

Còn những người dân tộc, những người thực ra là chủ từ bao đời của vùng núi này, họ được gì từ tất cả những cái này? Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống - tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng - thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Người thiểu số đang ra rìa ngay trên quê hương họ

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ. Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Họ sẽ không để cho du khách yên, sẽ táo tợn, sẽ đeo bám quấy rầy cho tới khi khách mua hàng mới thôi, sẽ hét “no money, no photo.”

Buổi trưa, khi các đoàn khách bận rộn với món lợn mán nướng bên trong các quán ăn, họ sẽ ngồi trên bậc thềm bên ngoài, ngước nhìn lên để thấy ngọn “Hủa Xi Pan" của mình, một biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, nóc nhà chung của họ từ hàng trăm năm nay, bỗng nhiên trở thành một điểm hành hương Phật giáo mới để cho những người ở đâu tới khấn lậy và nhét tiền vào tay tượng, xa lạ và thô bạo với không gian văn hoá của họ.

Có thể dừng lại cỗ máy khổng lồ mang tên “phát triển" này được không? Tôi không chắc. Bởi nó đang được đốt bởi lòng tham. Các doanh nghiệp thì say lợi nhuận. Chính quyền thì say tăng trưởng GDP.

Các du khách thì tham các trải nghiệm mì ăn liền, được tưởng thưởng mà không phải lao động. Họ muốn “chỉ cần 15 phút để lên nóc nhà Đông Dương”, chụp selfie giữa rừng già mà vẫn đi guốc cao gót được, nhẹ nhàng như vào Paris Deli.

Nhưng cũng như với mọi thứ khác trên đời, sự tham lam sẽ phá huỷ hết. Lòng tham sẽ biến con ngỗng vàng mang tên du lịch thành một con quái vật. Các nhà chuyên môn đã nói nhiều về cú nổ bong bóng của các điểm đến sau thời kỳ tăng trưởng nóng vô độ.

Với cách làm du lịch hiện nay, sẽ tới lúc Sapa giống muôn vàn những chỗ khác: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền. Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn, một sự thảm hại cho cả người ở đó lẫn người tới thăm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả từ Hà Nội.

Đặng Hoàng Giang
Theo BBC

Truyền thông Việt Nam mấy ngày qua nhắc tới hai vụ nổi bật liên quan tới công an, vụ bắt người mẫu Trang Trần và vụ người dân tử vong tại đồn công an ở Hà Tĩnh.

Trang Trần đã tại ngoại trong khi một người ở Hà Tĩnh tử vong tại đồn công an

Quyền lực của công an là chủ đề của Bàn tròn thứ Năm được phát trực tiếp tại http://bit.ly/1BSt1Dm từ 19:30-20:00 thứ Năm ngày 5/3.

Trả lời BBC Tiếng Việt hôm 3/3, Luật sư Trần Vũ Hải nói chỉ trong những trường hợp nhất định người dân mới có thể bị áp giải về đồn công an.

"Lúc nào họ cũng có quyền mời mình cả nhưng họ [chỉ có thể bắt buộc phải về đồn qua] áp giải ... khi mình có hành vi gây rối hoặc đả thương người khác.

"Còn trong tất cả những trường hợp khác nếu có vi phạm thì lập biên bản tại chỗ.

"Nếu hình sự, đấm đá lớn, thì không nói làm gì. Đương nhiên theo luật bắt quả tang người ta vẫn mang về đồn được...

"Còn những hành vi chỉ nói như [tục] thế thôi thì tôi cho rằng là không áp giải được.

"Người dân ở Việt Nam [khi bị] cưỡng chế các thứ người ta cứ chửi bới, v.v. nếu mà cứ [bắt] hàng chục người dân như thế nhét hết vào thì đâu đủ sức."

Trong vụ của người mẫu Trang Trần, cảnh sát đã quyết định đưa cô về đồn ngay sau khi cô có những lời lẽ lăng mạ lực lượng cảnh sát sáng sớm hôm 27/2.

Ông Hải cũng nói để giữ người dân tại đồn cần có lệnh của trưởng công an phường và để "bắt khẩn cấp", điều mà báo chí Việt Nam nói công an Việt Nam đã thực hiện với Trang Trần, cần có sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát trong vòng 24 giờ.

Chết trong đồn công an

Một ngày sau khi Trang Trần bị bắt, một người dân ở xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh bị bắt đưa về công an lúc 4h sáng ngày 28/2 vì 'tội đánh bạc' với tang vật là một bộ bài và 72.000 đồng theo báo Thanh Niên.

"Đến khoảng 8 giờ sáng cùng ngày, thấy sức khỏe của anh [Nguyễn Văn] Tình có biểu hiện bất thường, mặt mày xanh tái nên công an xã đưa anh tới trạm y tế xã thăm khám. Khoảng 1 giờ sau, anh Tình tử vong trên đường chuyển tới Bệnh viện đa khoa huyện Kỳ Anh cấp cứu," Thanh Niên viết.

Báo này cũng dẫn lời công an địa phương nói một công an xã thú nhận đã "tát nhẹ" ông Tình, 39 tuổi.

Hồi đầu năm 2013, BBC Tiếng Việt cũng đưa tin về vụ tử vong của một người đàn ông 39 tuổi khác trong đồn công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Vụ việc được chủ tịch tỉnh giải thích là do người dân "tự đút tay vào trong điện" và truyền thông địa phương cũng không ngay lập tức vào cuộc.

Tự quản và công vụ

Trong vụ của người mẫu Trang Trần cũng có câu hỏi lực lượng tự quản có phải là lực lượng thi hành công vụ không.

Người mẫu thú nhận đã "tát" vào mặt một người thuộc lực lượng tự quản khi anh này tiếp cận.

  Thực ra nhân viên tự quản cũng không rõ là [có] chế định pháp lý [như thế nào], tôi tìm hiểu thì cũng không thấy văn bản nào nói về tự quản. ... Tự quản là những người trong khu dân cư nhất định nào đấy, người ta đứng ra làm nhiệm vụ tuần tra đi lại trong khu của mình... nôm na là như thế nhưng nói bằng văn bản tôi cũng chưa thấy có.

Luật sư Trần Vũ Hải
Về vấn đề này, luật sư Trần Vũ Hải giải thích:

"Thực ra nhân viên tự quản cũng không rõ là [có] chế định pháp lý [như thế nào], tôi tìm hiểu thì cũng không thấy văn bản nào nói về tự quản.

"Thế nhưng trong thực tế thì người ta hiểu là Việt Nam có [những người] như dân phòng chẳng hạn nhưng dân phòng [hoạt động cùng lực lượng phòng cháy] chữa cháy.

"Nhưng người ta cũng hay huy động để làm việc khác ngoài phòng chữa cháy.

"Còn tự quản là những người trong khu dân cư nhất định nào đấy, người ta đứng ra làm nhiệm vụ tuần tra đi lại trong khu của mình... nôm na là như thế nhưng nói bằng văn bản tôi cũng chưa thấy có."

Ông Hải nói những thành phần tự quản có thể được tiền "bồi dưỡng" từ quỹ trật tự an ninh của mỗi phường và nói thêm:

"Tự quản [thường] đến lượt anh nào anh đấy đến nhưng nhiều anh trở thành bán chuyên nghiệp.

"Nhiều anh không có công ăn việc làm hay được huy động trở thành nhân viên tự quản.

Trước câu hỏi nhân viên tự quản có phải là người thi hành công vụ không, ông Hải nói:

"Quan điểm của tôi là không. Còn nếu giả sử ai người ta nói đó là công vụ thì phải nói rõ họ dựa theo quy chế nào để xác định đấy là công vụ và phải có hợp đồng giao vụ việc.

"Thực tế không có điều đấy và thực tế như tôi đã nói cũng không có văn bản pháp lý nào để nói việc đấy nên đây là hoàn toàn tự phát."

Theo BBC

Đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Hàn, Mark Lippert, vừa bị một kẻ tấn công làm bị thương ở Seoul.

Vụ tấn công xảy ra khi ông Lippert, 42 tuổi, chuẩn bị tham gia một buổi ăn sáng làm việc.

Các vết thương của ông Lippert 'không nguy hiểm tính mạng'

Các hình ảnh được công bố sau đó cho thấy ông đại sứ bị chảy máu một bên mặt và trên tay trái. Ông bị rạch bằng dao lam.

Ông Lippert được mang tới bệnh viện. Kẻ tấn công, được cho là một người đàn ông 55 tuổi, đã bị các nhân viên an ninh khống chế và bắt giữ.

Các vết thương của ông Lippert không nguy hiểm tính mạng, theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

'Khẩu hiệu phản chiến'

Cảnh sát Hàn Quốc được hãng tin Yonhap dẫn lời nói vụ tấn công xảy ra khoảng 07:40 sáng thứ Năm giờ địa phương (05:40 sáng giờ Hà Nội), khi ông đại sứ đang bước vào một học đường ở trung tâm Seoul.

Kẻ tấn công đã hô lớn: "Nam Hàn và Bắc Hàn phải được thống nhất!" trước khi xông vào ông đại sứ.

Kẻ tấn công cũng phản đối các cuộc tập trận thường niên mà Hoa Kỳ và Nam Hàn tổ chức, một cuộc hiện đang diễn ra. e currently under way.

Bình Nhưỡng nói cuộc tập trận có sự tham gia của hơn 200.000 lính là tập dượt để xâm lược Bắc Hàn và thề đánh trả.

Tuy nhiên phóng viên BBC tại Seoul, Stephen Evans, nói không có chỉ dấu gì cho thấy người tấn công là đặc vụ của Bắc Hàn.

Phóng viên của chúng tôi nói thêm rằng nhiều người miền Nam tin rằng hiện diện quân sự của Mỹ tại Nam Hàn cản trở quá trình thống nhất hai miền.

Kẻ tấn công trước đó từng ném bê tông vào đại sứ Nhật Bản ở Nam Hàn và cũng có tiền sử hoạt động dân tộc chủ nghĩa.

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã gọi điện hỏi thăm ông Lippert và chúc ông chóng khỏe.

Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói: "Chúng tôi cực lực lên án hành động bạo lực này".

Ông Lippert - cựu thứ trưởng quốc phòng, mới được bổ nhiệm làm đại sứ ở Hàn Quốc năm 2014.

Vợ ông vừa sinh con tại đây và con trai ông có tên đệm Triều Tiên

Theo BBC

Thanh tra Chính phủ vừa phát hiện nhiều sai phạm nghiêm trọng trong việc cấp phép đầu tư cho dự án Formosa ở Vũng Áng Hà Tĩnh. Tuy vậy Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý hợp thức hóa, không xét lại việc chính quyền địa phương cố tình nâng thời hạn giấy phép từ 50 năm theo luật định lên 70 năm.


Đường vào công trường xây dựng Dự án Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh.

Trái qui định của nhà nước

Dự án Formosa trị giá 15 tỷ USD bao gồm Khu liên hợp gang thép công suất 22 triệu tấn/ năm và Cảng nước sâu Sơn Dương ở Hà Tĩnh được cấp phép từ năm 2008. Năm ngoái thông tin về dự án Formosa xuất hiện nhiều trên mạng quốc tế là do cuộc biểu tình bạo loạn chống Trung Quốc ngày 14/5 ở khu công nghiệp Vũng Áng. Vụ bạo loạn này gây tổn thất vật chất và thương vong cho một số công nhân Trung Quốc.

  Đây là một vấn đề hết sức là nghiêm trọng, bởi vì chính các cơ quan nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật của nhà nước này là những nơi vi phạm pháp luật rất là nghiêm trọng. Việc hợp thức hoá một quyết định trái với qui định của nhà nước thì tôi nghĩ cũng lại là trái pháp luật nữa.

-TS Nguyễn Quang A
Tuy vậy, đối với các chuyên gia Việt Nam thì Formosa là một dự án đầy tranh cãi cả về an ninh quốc phòng lẫn an ninh kinh tế và an ninh môi trường. Tập đoàn Đài Loan được phép sử dụng diện tích 3.300 ha trong vòng 70 năm, bao gồm 2.000 ha trên đất liền và 1.200 ha mặt nước ở phía Nam Vịnh Vũng Áng Hà Tĩnh.

Ngày 3/3/2015 sau phiên họp Chính phủ tại Hà Nội, ông Nguyễn Văn Nên cho báo chí biết Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý không thay đổi thời hạn giấy phép kéo dài 70 năm của Fomosa, mặc dù tỉnh Hà Tĩnh thực hiện sai pháp luật và Thanh tra Chính phủ đã có kết luận và đề nghị xử lý kể cả điều tra hình sự. Theo Dân Trí Online, tỉnh Hà Tĩnh cho biết chính Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký cho phép địa phương thực hiện việc cấp chứng nhận đầu tư thời hạn 70 năm.

Nhận định về sự kiện vừa nêu, TS Nguyễn Quang A một nhà hoạt động xã hội dân sự độc lập từ Hà Nội phát biểu:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại lễ khởi công dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu của Formosa tại Hà Tĩnh, tháng 7 năm 2008. File photo.
“Đây là một vấn đề hết sức là nghiêm trọng, bởi vì chính các cơ quan nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật của nhà nước này là những nơi vi phạm pháp luật rất là nghiêm trọng. Việc hợp thức hoá một quyết định trái với qui định của nhà nước thì tôi nghĩ cũng lại là trái pháp luật nữa. Về vấn đề Vũng Áng thì đúng là một chuyện hết sức kỳ quặc. Quyết định này cho thấy có những thế lực thực sự đã bán rẻ theo ý người ta.” 

Báo Tuổi Trẻ bản tin trên mạng ngày 2/3/2015 đưa tin Thanh tra Chính phủ phát hiện hàng loạt sai phạm trong việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý, sử dụng đất đai đối với một số dự án trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Riêng đối với dự án Formosa, ngày 21/5/2008 Ban Quản lý khu kinh tế Vũng Áng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư lần đầu với thời hạn 70 năm. Đúng ra Hà Tĩnh chỉ được cấp phép tối đa 50 năm, còn nhiều hơn thì phải có ý kiến Chính phủ. Ngoài ra Hà Tĩnh còn miễn thuế đất 15 năm và cho thuê 33 triệu m2 vuông đất với giá rẻ chỉ có 80 đồng/m2/năm, tiền thuê mặt nước 10 triệu đồng/km2. Không những vậy Formosa nợ gần 200 tỷ đồng thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường.

Một hiểm họa khó lường
 
Khá lâu trước sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, giới nhân sĩ trí thức chuyên gia, cựu tướng lãnh đã cảnh báo trong vô vọng về vấn đề an ninh quốc phòng đối với dự án Formosa ở Vũng Áng Hà Tĩnh. 3.300 ha đất và biển giao đứt cho nước ngoài 70 năm trấn thủ vị trí chiến lược nhạy cảm về an ninh quốc phòng.  Theo đó Vũng Áng Hà Tĩnh đối diện và khá gần đảo Hải Nam của Trung Quốc, nếu có chiến tranh Trung Quốc dễ khống chế vịnh Bắc Bộ cắt đứt hải lộ Bắc Nam. Đó là chưa nói tới sự kiện đường bộ từ Lào qua Hà Tĩnh chỉ tốn vài giờ vận chuyển. Một khu vực 3.300 ha khép kín với cảng biển nước sâu Sơn Dương nằm trong tay Trung Quốc-Đài Loan thật là một hiểm họa khó lường trong tình huống xấu.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc từng nói với chúng tôi:

  Hà Tĩnh là cái yết hầu của miền Trung và hơn nữa nó xây dựng thành một thứ căn cứ, ở trong đó phức tạp lắm chứ không phải chỉ đơn giản là chỗ luyện thép đâu. Cho nên tôi cho là những người lãnh đạo chỉ huy các tỉnh chỉ thấy tiền mà không thấy nguy hiểm cho đất nước.

-Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
“Hà Tĩnh là cái yết hầu của miền Trung và hơn nữa nó xây dựng thành một thứ căn cứ, ở trong đó phức tạp lắm chứ không phải chỉ đơn giản là chỗ luyện thép đâu. Cho nên tôi cho là những người lãnh đạo chỉ huy các tỉnh chỉ thấy tiền mà không thấy nguy hiểm cho đất nước.”

Sự kiện Thanh tra Chính phủ phát hiện nhiều sai phạm của Chính quyền tỉnh Hà Tĩnh, đặc biệt đối với dự án khu liên hợp gang thép và Cảng nước sâu Sơn Dương, một lần nữa đánh động dư luận về chủ trương trải thảm đỏ mời gọi đầu tư nước ngoài, thu hút nhiều nhà thầu Trung Quốc sang thi công mang theo hàng chục ngàn công nhân người Hoa. Giới phản biện từng cho rằng, các địa phương lạm dụng chủ trương này là lợi bất cập hại. TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Dự án Vũng Áng dư luận lên tiếng rất nhiều về chuyện lao động nước ngoài cụ thể là lao động Trung Quốc, đó là những chuyện nổi cộm nhưng theo tôi chưa phải là vấn đề trầm trọng nhất ở đây mà là vấn đề người ta trải thảm đỏ để mời đầu tư nước ngoài mà không cân nhắc những hậu quả của nó. Thí dụ tất cả những dự án mà tốn năng lượng gây ô nhiễm môi trường nhiều, tôi chưa nói đến chuyện an ninh quốc phòng hay an ninh kinh tế, mà vẫn khuyến khích thì đấy là những khuyến khích hết sức nông cạn và nó có thể gây tác hại cho Việt Nam hàng năm bảy chục năm nữa. Bởi vì những hệ quả nó để lại có thể rất khủng khiếp về vấn đề môi trường, về tiêu thụ năng lượng mà tiêu thụ năng lượng cũng dính tới môi trường và không những thế, rất có khả năng người ta trải thảm đỏ thì người ta đồng ý cho những nhà đầu tư nước ngoài được hưởng một giá rẻ nhất định.”

Trong cuộc tiếp xúc với báo chí Hà Nội chiều ngày 3/3 sau phiên họp Chính phủ, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên từ chối không bình luận về việc tỉnh Hà Tĩnh xác định việc nâng thời hạn dự án Formosa từ 50 năm lên 70 là chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải. Theo lời Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên, mặc dù Thủ tướng bảo lưu giấy phép đầu tư dự án Formosa có thời hạn 70 năm, nhưng Thủ tướng thống nhất cơ bản với những kết luận Thanh tra Chính phủ công bố.

Các nhà phản biện độc lập, giới nhân sĩ trí thức cựu tướng lĩnh từng cảnh báo Chính phủ Việt Nam cần lưu tâm nhiều hơn nữa về tính hai mặt của chủ trương trải thảm đỏ mời gọi đầu tư nước ngoài. Một sự sai lầm ngày hôm nay có thể khiến thế hệ con cháu mai sau phải gánh chịu hậu quả.

Nam Nguyên
phóng viên RFA
Theo RFA

Written By BTV VANEWS on Thứ Tư, ngày 04 tháng 3 năm 2015 | 23:30

Lời nói đầu: Câu chuyện bằng dỏm từ lâu nay đã trở thành một thứ ung thư làm hại đất nước này.

Con số thạc sĩ, tiến sĩ dỏm có khi lên cả nhiều ngàn. Kẻ dựa bằng dỏm lên làm lãnh đạo là những người làm quyết định có tác động sâu xa đến đời sống của nhân dân, đến nội lực và thế phát triển, phòng thủ của đất nước; kẻ lên mác "giáo sư đại học" đứng vai đào tạo sinh viên, thử hỏi mấy ông mấy bà đó dạy được gì cho sinh viên? Con số các công trình, bài nghiên cứu (có chất lượng) hàng năm dường như đếm không quá năm đầu ngón tay chứ đừng nói đến mười.

Sau khi đọc và dịch bài này tôi đã có cái nhìn bớt nghiêm khắc về việc Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã bị “Đại Học Dỏm” lường gạt, chỉ tiếc là việc lường gạt đã xảy ra trong hơn chục năm. Bây giờ chỉ có hai lo âu: là thứ nhất làm sao ngăn chận bảo vệ cho Việt Nam mình trước bọn ác ôn “bán bằng dỏm” và làm sao cho bản thân người Việt tự mình ý thức không chạy theo, mua và sử dụng các bằng dỏm đó; thứ hai là tổ chức nghiên cứu làm sao để tạm thời mời các ông bà “thạc sĩ", "tiến sĩ" dỏm cùng nhau tìm biện pháp sửa chữa. Hai chuyện này phải trông chờ đến Nhà Nước và Hội Đồng Đại Học Việt Nam (đại diện cho tất cả các Đại Học dân chính ở VN) ra tay.

Ghi chú: 1) Xin được dùng xen kẽ “Đại Học Dỏm” với cụm từ “Nhà máy / Xưởng làm văn bằng” cho chữ “Degree mills” để dễ nắm ý; 2) Bài này nói về nạn “Đại Học Dỏm” ở Mỹ; 3) Bài dịch ở đây được làm theo thể phỏng dịch để làm dễ hiểu theo văn cách Việt Nam càng nhiều càng tốt.

Văn bằng phân phát ra từ các “Đại Học Dỏm” đã xuất hiện từ khoảng trăm năm nay, và chúng vẫn đang nở rộ khắp nơi trên thế giới. Trong những năm 1980, số lượng các trường “Đại Học giả mạo” giảm đáng kể nhờ chiến dịch "DipScam"[viết tắt của Diploma Scam = Bằng giả] chống các “Đại Học Dỏm” của FBI [Cảnh Sát Liên Bang Mỹ]. Công việc của họ, như mô tả dưới đây, đã giúp đưa ra các cáo trạng vững chắc và, trong nhiều trường hợp, đã dẫn đến những bản án trừng phạt một số lớn những kẻ đã tổ chức và điều hành không ít các trường đại học giả mạo.

Thật không may, xu hướng này đã bị đảo ngược và mọi thứ đang trở nên tệ hơn. Với sự thu hồi của chiến dịch “DipScam” trong những năm đầu của thập kỷ 1990, và sự ra đời của máy in laser giá rẻ, máy photocopy màu, dịch vụ chuyển phát qua đêm, các số điện thoại với số vùng ảo 800, 888, 877, và 500, fax, các quãng cáo qua máy tính, và qua các công nghệ truy cập khác - đáng kể nhất sự phát triển của Internet - các “nhà máy sản xuất bằng tốt nghiệp” đã thực sự xuất hiện trở lại, ở cả Hoa Kỳ và Châu Âu.

Hiện nay có hàng chục nơi mà người ta có thể mua các bằng Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, ngay cả những văn bằng về Luật và Y Khoa với giá đâu đó từ một đến vài ngàn đô la và không phải trả lời một câu hỏi nào. Để chứng minh điều này, John [tác giả] đã mua được (với $ 53) một văn bằng ngành Luật nhìn là cực kỳ đáng tin của Đại học Harvard (Tiến Sĩ Luật), từ một nhóm người ở Florida được quảng cáo trên toàn quốc, đầy đủ với một số điện thoại 800. Quảng cáo của họ đã chạy từ ít nhất bốn năm nay, và thậm chí họ còn có một cơ sở bán lẻ nhỏ nơi mà họ in bằng tốt nghiệp trong khi bạn chờ đợi. Bảng điểm cũng có sẵn [cho bạn]. Và không, chúng tôi sẽ không cung cấp địa chỉ nơi này, hoặc của bất kỳ trường bất hợp pháp nào khác. Chúng tôi không muốn quãng cáo dùm giúp họ kinh doanh [bằng công bố địa chỉ]. Và luật sư của chúng tôi đã tư vấn rằng chúng tôi có thể bị "mang tội đồng lỏa" nếu ai đó mua một tấm bằng giả mạo và sử dụng nó để lừa gạt người khác. (Chúng tôi, tất nhiên, sẽ hợp tác với các giới chức thực thi pháp luật và các phóng viên điều tra thứ thiệt.)

Một trong những lý do chính mà các trường [đại] học giả mạo tiếp tục tồn tại là rất khó có được xác định chính xác về mặt pháp lý về ý nghĩa của thuật ngữ "nhà máy cấp bằng tốt nghiệp" hay "Cơ xưởng làm bằng tốt nghiệp." Bất kỳ trường nào mà trong đó có chuyện gửi ngược lại cho bạn tấm bằng Tiến Sĩ qua Bưu Điện sau khi họ đã nhận được 100 đô la tiền thanh toán, mà không có câu hỏi nào, thì chắc chắn đó là một sự gian lận. Nhưng nếu là câu chuyện mà một trường nào đó chỉ đòi hỏi một luận văn dài năm trang trước khi trao bằng Tiến Sĩ? Hay cả đến 20? 50? 100? 200 trang? Ai có thể nói gì về chuyện đó? “Đại Học dỏm” do một người [tổ chức và điều hành] là một cách tổ chức đại học khác của con người. Và dường như không ai muốn chính phủ nhảy vào để [can thiệp vào việc] đánh giá các luận án tiến sĩ trước khi cho phép các Đại học được phép cấp bằng. Bạn có muốn [chèn tên của chính trị gia ít được bạn yêu thích nhất] xếp loại luận án của bạn?

Một vùng xám lớn khác là việc phải đối phó với các trường tôn giáo. Bởi vì Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước, nên hầu hết các Tiểu bang đã rất ngại khi muốn thông qua bất kỳ đạo luật nào làm hạn chế các hoạt động của nhà thờ - bao gồm cả quyền được cấp bằng cho tất cả những ai có một đóng góp đặc biệt lớn. Tại nhiều Tiểu bang, trường học tôn giáo không bi [buộc theo] quy định nhưng họ bị hạn chế chỉ được cấp bằng về tôn giáo. Nhưng ở một số Tiểu bang khác, như Louisiana và Hawaii, nếu bạn thành lập một nhà thờ chỉ có một người của riêng bạn ngày hôm qua, thì bạn có thể bắt đầu các trường đại học của bạn ngày hôm nay và cấp bằng Tiến sĩ Vật lý Hạt nhân vào ngày mai.

Nhiều Tiểu bang công bố rằng các trường tôn giáo [từ nay] chỉ có thể cấp các bằng cấp tôn giáo. Khi các hạn chế được công bố, một “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” ở Louisiana đã kiện ra Tòa với lập luận rằng vì Thiên Chúa đã tạo ra tất cả mọi thứ, bất cứ thứ gì mà bạn học, đó là việc học về các công trình của Thiên Chúa, và do đó các văn bằng đó cũng là những văn bằng tôn giáo. Hai lần, tòa án Louisiana đồng ý với lập luận này!

Vì sao các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” lại được phép hoạt động?

Câu trả lời là, như vừa nói ở trên, gần như không thể viết được một đạo luật để phân biệt rõ ràng giữa các trường hợp pháp và các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp”. Bất kỳ Luật nào cố gắng để xác định cái gì đó trên một sự việc có tính chủ quan - như tục tĩu, khiêu dâm, hành vi đe dọa, hoặc chất lượng của một trường học - là dính đến tranh cãi [không dứt]. Có thể không bao giờ có được một phương cách có thể định lượng, thực vậy, đặt một thước do trên một trường học và nói, "Trường này có điểm 83, nên nó là [trường] hợp pháp. Trường kia được điểm 62; nó là một “Xưởng làm bằng tốt nghiệp”."

Ngoài ra, nếu một “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” đã không quậy bùn vào trong ly nước của địa phương mình mà chỉ bán sản phẩm của họ ở các Tiểu bang hoặc ở nước khác, thi có nhiều khả năng nó được sống [trong Tiểu bang của nó] lâu hơn. Một con số khá đẹp [nhiều] về các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” đang hoạt động từ Anh Quốc, họ chỉ bán sản phẩm của mình cho người ở các nước khác (chủ yếu là Hoa Kỳ, Phi châu, và Á châu). Nhiều chính quyền Anh Quốc dường như không quan tâm duy nhất miễn là nạn nhân là người nước ngoài, và các chính quyền ở Hoa Kỳ thấy mình hầu như không thể có hành động gì chống lại các doanh nghiệp của nước ngoài.

Sau nhiều thập kỷ tranh luận về vấn đề này (ngay cả Thái tử Charles cũng đã có một bài phát biểu về vấn đề “Xưởng làm bằng tốt nghiệp”). Nước Anh đã thực hiện hai bước nhỏ. Bước một là cấm các trường không được công nhận được phép tự gọi mình là một "trường đại học". Tuy nhiên, luật này vừa có hiệu lực trong khoảng ba phút thì một trong những “nhà máy làm bằng tốt nghiệp” hàng đầu của nước Anh là "Sussex College of Technology”, đã tìm thấy lỗ hổng. Luật pháp tuyên bố rằng Luật chỉ liên quan đến những ai đăng ký sau ngày 01 tháng 4 năm 1989 [vì tính bất hồi tố], Sussex ngay lập tức bắt đầu cấp bằng ghi ngày cho đến 31 tháng Ba năm 1989, mà không bị coi là bất hợp pháp. Ho vẫn tiếp tục đi tới với mưu chước này. Bước hai là yêu cầu các trường không được công nhận phải ghi trong tài liệu học tập của họ là họ hoạt động không theo Hiến chương Hoàng gia hoặc một đạo luật của Quốc hội (hai cách để một trường học trở nên hợp pháp được công nhận ở Anh). Điều này, tuy nhiên, thậm chí là nó không được những người mua bằng [là cư dân] ở các nước khác chú ý.

Các quốc gia và các vùng lãnh thổ khác đã cố gắng phát họa ra Luật mà Luật này sẽ cho phép các trường học phi truyền thống được hoạt động hợp pháp trong khi loại bỏ các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp”. Ví dụ, trong nhiều năm California đã có một đạo luật công bố rằng các đòi hỏi chính để được nhà nước ủy quyền cấp phát bằng cấp là phải sở hữu 50.000 USD bằng giá trị bất động sản. Luật đã được thông qua dường như là để gạt bỏ loại “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” mà chỉ cần chút kinh phí để lập và không đáng tin cậy. Nhưng 50,000$ ngày nay đã rất khác, và từ những năm 1960 đến đầu những năm 1980, hàng chục nhà khai thác dấu mặt đã tuyên bố rằng nhà hoặc giá trị kế toán tài sản của họ trị giá 50,000$ và đã loạn xạ nhảy vào tiến hành bán bằng [dỏm].

Năm 1978, John vui vì đã tham vấn cho khán thính giả trong chương trình "60 phút" của đài CBS về các "trường đại học [dỏm]" ở California, họ đã làm lộ diện Mike Wallace, là người sở hữu Đại học California Pacifica, trong lúc Wallace phỏng vấn ông [trong chương trình], và ngay sau đó Wallace đã nhận tội liên quan nhiều tội danh “gian lận thư tín và điện thoại” [1] [2], và bị thọ phạt ở nhà tù liên bang. Hai năm sau, California Pacifica vẫn còn được liệt kê trong ấn phẩm chính thức của nhà nước, trong danh mục các tổ chức giáo dục California.

California, may mắn thay, đã siết chặt mọi thứ một cách đáng kể từ lúc đó, bằng cách loại bỏ các thể loại "được phép", và thêm những đòi hỏi là phải có các yếu tố về giáo dục được cung cấp bởi các trường học mà tiểu bang công nhận. Một lần nữa, tất nhiên, chúng ta đã ra một luật nhằm cố gắng xác định các vấn đề [mang tính] chủ quan.

Năm 1990, John đã có niềm vui khác là tiếp tục xuất hiện trong các chương trình cung cấp thông tin quốc gia "Inside Edition" để giúp phơi bày thêm một “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” lớn, là North American University [Đại học Bắc Mỹ]. Chủ của nó, Edward Reddeck, người trước đó đã bị vào tù vì đã mở một đại học giả, bị kết án về nhiều tội “gian lận thư tín và điện thoại” [2], và phải chịu án vài năm trong nhà tù liên bang.

Một lý do khác cho sự bành trướng các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” trong quá khứ là vì bánh xe của Công lý quay rất chậm, khi mà tất cả các bánh xe đều chạm mặt đất. Dallas State College đã bị đóng cửa bởi chính quyền ở Texas vào năm 1975. Nhưng những tên tội phạm đã gần như ngay lập tức mở ra Jackson State University [Đại học Quốc Gia Jackson] ở California. Khi Bưu Điện cắt không phát và nhận thư của họ ở đó, họ quay ra mở John Quincy Adams University [Đại học John Quincy Adams] ở Tiểu Bang Oregon. Phải mất 12 năm nữa và một nỗ lực lớn của FBI [Cục Điều tra Liên bang] trước khi thủ phạm, chủ của Dallas State College cuối cùng đã bị đưa ra trước Công lý tại một tòa án Liên bang ở Bắc Carolina vào cuối năm 1987, gần hai thập kỷ [trôi qua] và hàng triệu đô la doanh thu từ khi họ bán tấm bằng Tiến sĩ đầu tiên của họ. Và khi FBI, IRS [Bộ Thuế Vụ] và các thanh tra Bưu chính đã đột kích một “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” ở Tiểu bang Louisiana vào năm 1995, nơi họ đã thu hồi hơn 10 triệu USD tiền mặt. Trên trang chính của một tờ báo vào thời điểm đó đã nêu lên rằng các cơ quan này đã phải trải qua hơn năm năm chuẩn bị cho cuộc thăm viếng của họ.

Chiến dịch “DipScam” [Diploma Scam: Bằng Giả]

Sự tham gia của Cục Điều tra Liên bang (FBI) vào “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” đã làm thay đổi các luật chơi. Vào cuối những năm 1970, cơ quan này đã đưa ra một chiến dịch gọi là DipScam (cho Diploma Scam: Bằng Giả), trong đó là việc điều tra một cách quy mô các tổ chức cấp bằng [giả] trong và cả ngoài nước [Mỹ], với sự hợp tác từ Scotland Yard [Cơ quan Điều Tra của Anh Quốc] và các cơ quan nước ngoài khác.

John đã tham khảo ý kiến với FBI về vấn đề các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” từ năm 1979 đến năm 1992, năm mà ông Allen Ezell, một đặc vụ chuyên vạch trần các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” nghỉ hưu, và chiến dịch DipScam đã dần dần bị xếp xó.

FBI đã nhìn vào hàng trăm trường không được công nhận. Một số được tìm thấy là vô hại, vô thưởng vô phạt, thậm chí tốt, nên đã không có hành động [pháp lý] nào được đưa ra. Khi có bằng chứng để lôi ra Tòa, lệnh khám xét được đưa ra, và FBI đã thu và chở về hàng tấn giấy tờ và hồ sơ. Trong nhiều trường hợp, nhưng không phải tất cả, Bồi thẩm đoàn Liên bang đưa ra bản cáo trạng. Và khi họ đã làm, trong nhiều trường hợp, các bị cáo đã nhận tội “gian lận thư tín và điện thoại” [2], và chịu án phạt tiền và tù ở nhà tù liên bang [3]

Các từ ngữ trong bản cáo trạng của Bồi thẩm đoàn Liên bang là khá tuyệt vời. Dưới đây là một ví dụ, từ một bản cáo trạng. (Đây chỉ là một đoạn trích nhỏ từ một tài liệu dày.)

ÂM MƯU VÀ GIAN KẾ: Cáo trạng Một: Từ một thời điểm không xác định trước, lúc, hoặc về (ngày) và tiếp tục đến một thời điểm [ngày] không rõ sau đó ở [Tiểu Bang] North Carolina và các nơi khác ở Hoa Kỳ, [bị cáo] đã cố tình, cố ý, và đã liên kết, âm mưu, liên minh và đồng ý với nhau và với những người khác một cách bất hợp pháp mà Đại Bồi Thẩm Đoàn đã biết và chưa biết, đã phạm tội chống lại Hoa Kỳ, đó là, đã nghĩ ra và có ý định xây dựng âm mưu và gian kế để lừa gạt và để kiếm tiền bằng cách lừa, giả mạo và gian lận, đóng kịch và [đưa ra] những lời hứa, với mục đích thực hiện âm mưu và gian kế để lừa gạt và họ đã thực hiện một cách có ý thức và cố tình đưa cho một cơ quan Bưu Điên và một nơi được phép làm dịch vụ Bưu Điện và hưởng dụng được dịch vụ gửi và nhận qua đường Bưu Điện theo bản hướng dẫn [của Bưu Điện Hoa Kỳ], [việc làm đó] đã vi phạm Điều 18, Bộ luật Hoa Kỳ, mục 1341 và 2, và việc cố tình và với ý đồ chuyển và đã thực hiện việc chuyển qua phương tiện truyền thông hữu tuyến trong thương mại Liên bang, truyền một vài dấu hiệu, tín hiệu và âm thanh, nghĩa là, điện thoại Lliên bang, là vi phạm Điều 18, Bộ luật Hoa Kỳ, mục 1343.

Nói cách khác, họ đã gửi văn bằng giả qua đường Bưu điện, và thực hiện các cuộc gọi điện thoại giữa các Tiểu bang với khách hàng của họ.

Trong những ngày đầu, DipScam đã truy các đại học Y tế giả, những người bán bằng giả nguy hiểm nhất trong tất cả bọn họ. Họ đã nhanh chóng đóng cửa hai thủ phạm tồi tệ nhất, là Đại học [giả] Y khoa Johann Keppler và Đại học Y dược [giả] United American Medical College, và đưa các người sáng lập chúng vào tù.

Trường hợp lớn nhất của DipScam vào thời phút cuối vinh quang của nó là trong một phiên Tòa liên bang ở Charlotte, North Carolina, vào tháng 10 năm 1987, với sự có mặt của John như một nhân chứng chuyên môn và quan sát. Xét xử là bảy thủ phạm của một chuỗi dài của các “Xưởng làm bằng tốt nghiệp” gần đây nhất gồm Roosevelt University, Loyola University, Cromwell University, University of England at Oxford, Lafayette University, DePaul University, Southern California University [4], cũng như một số cơ quan kiểm định giả mạo.

Hơn 100 nhân chứng được gọi là trong khoảng thời gian hai tuần rưỡi, trong đó có nhiều người đã ký thác nhiều số tiền đáng kể vào ngân hàng và các đầu tư của các bị cáo. Các nhân chứng đến từ Âu châu khai rằng các dịch vụ chuyển thư mà các bị cáo sử dụng là ở Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan, và các nơi khác. Bầu không khí như đang ở rạp xiếc không giúp ích được gì bởi lúc ấy cũng có phiên xử nhóm Jim và Tammy Faye Bakker, Jessica Hahn, và công ty [5], đang xảy ra trong phòng xử bên cạnh phải, và vì vậy mà khuôn viên của Tòa án đã bị tràn ngập bởi các nhiếp ảnh gia và các phóng viên, không ai trong số họ có chút quan tâm về phiên xử vụ DipScam.

Hai bị cáo không quan trọng được quan Tòa miễn truy cứu vì thiếu bằng chứng rõ ràng, nhưng năm bị cáo chính đã bị Bồi thẩm đoàn kết tội trên tất cả 27 tội danh gian lận bưu điện, trợ giúp và tiếp tay, và âm mưu. Họ bị kết án từ hai đến bảy năm tù.

Mặc dù các dự án DipScam không còn hoạt động, FBI, các thanh tra bưu chính, và một số cơ quan của các Tiểu Bang “chiến đấu” vẫn đang tích cực làm việc để không cho các đại học dỏm hoạt động và bán các bằng cấp giả mạo.

Tại sao “Đại Học dỏm” lại phát triển ?

Lý do chính - thực sự là lý do duy nhất - cho sự thành công của các “Đại Học dỏm” (như việc buôn bán ma túy, và sách báo khiêu dâm) là, tất nhiên, vì có nhiều người tiếp tục mua sản phẩm của họ. Họ khao khát có tấm bằng và bằng cách nào đó, mặc dù đã có nhiều bằng chứng ngược lại, nhưng họ đã thực sự tin rằng họ sẽ không bị bắt quả tang với tấm bằng đó.

Thật không may, nhiều tờ báo và tạp chí tiếp tục cho phép các thủ phạm đăng quảng cáo. Trong bài viết này, ví dụ, một số đại học dỏm lớn nhất đã quảng cáo trong hầu hết trong các số báo của tờ The Economist USA Today, Forbes, Psychology Today, Inc., Discover, Investors Business Daily, the International Herald Tribune, trong các phiên bản khu vực của tờ Time và Newsweek, và hàng chục nhà phát hành khác mà [lẽ ra] họ đã phải biết rõ hơn.

Thật vậy họ phải biết rõ hơn. Là một dịch vụ công cộng, chúng tôi thường xuyên viết thư cho các nhà phát hành đó để cho họ thấy rằng họ đang làm hại độc giả của họ bằng cách đăng các quảng cáo này. Với ngoại lệ là Wall Street Journal đã kịp thời thay đổi chính sách của mình, chúng tôi đã thất bại hoàn toàn. Năm 1997, tờ “USA Today” nói với chúng tôi rằng họ sẽ thay đổi chính sách của họ, nhưng sau đó dường như họ đã đổi ý. Tờ báo “The Economist” thậm chí đã viết thư cho chúng tôi nói rằng độc giả của họ đủ thông minh để có suy nghĩ riêng của mình. Sau đó, khi chúng tôi đã cố gắng để đưa đăng một bài “Báo động về nạn Đại Học dỏm” ["Diploma Mill Alert"] trong tờ The Economist – bài đăng đã bị bác bỏ, bởi vì "Chúng tôi không chạy quảng cáo nhằm phê phán các khách hàng có quảng cáo [đăng] trên báo của chúng tôi."

Trong quá khứ đã có vụ kiện tập thể [6] đưa ra Tòa thay mặt cho các nạn nhân bị lừa đảo cùng lúc kiện các nơi đăng các quảng cáo gian lận. Chúng tôi chỉ có thể hy vọng rằng một vụ kiện như vậy sẽ thu hút sự chú ý của các luật sư nhắm vào các nhà xuất bản như thế.

Hai cách gian lận Đại Học xảo quyệt khác:

Dịch vụ thay thế bằng bị mấtt ("lost diploma replacement service. "): Nếu bạn nói với họ là bạn đã có một văn bằng hợp pháp nhưng đã bị mất, họ sẽ thay thế nó cho bạn với một khoản phí khiêm tốn. Đó là lý do tại sao John đã có được một tấm bằng tốt nghiệp "Bác sĩ Giải phẫu Thần kinh" của [Đại Học] Harvard để treo trên tường của mình (bên cạnh tấm bằng thực của Bang Michigan của mình). Bằng Harvard giả được bán với giá 49.95$. Khi FBI đột kích vào một dịch vụ như vậy ở Oregon (họ đã quảng cáo trong các tờ báo phát hành trên cả nước), họ đã tìm thấy hàng ngàn phôi văn bằng từ hàng trăm trường học và các hồ sơ cho thấy đã có một số lượng lớn đáng báo động về khách hàng. Cơ sở dịch vụ [bán bằng dỏm] ở Oregon không còn đưa ra quảng cáo, nhưng vẫn có những cơ sở khác xuất hiện sau đó, như nơi mà John đã mua “bằng” Luật của Đại Học Harvard. Kể từ khi các dịch vụ yêu cầu khách hàng ký một văn kiện xác nhận rằng họ thực sự trước đây đã có bằng, và kể từ khi các văn bằng [bán ra] đi kèm với một miếng dán có ghi ("Novelty Item") [Vật để trưng bày] (dễ dàng bóc ra), các dịch vụ [bán bằng giả] cũng có thể hoạt động một cách hợp pháp. Ít nhất, đã có một lần, Bộ Tư Pháp đã không thể đạt được một bản án nào từ một Đại bồi thẩm đoàn Liên bang vì những lý do này.

Cách [gian lận] khác là dịch vụ viết luận văn, văn bản. Một số trong họ đưa ra danh mục liệt kê hơn một ngàn luận văn đã được viết sẵn mà họ sẽ bán; và nếu họ không có những gì bạn muốn tìm, họ sẽ viết bất cứ điều gì từ một bài báo ngắn để một luận án lớn cho bạn, với từ 7 đến 10 đô la một trang.

Cảnh báo mạnh mẽ:

Chúng tôi phải cảnh báo các bạn, một cách dứt khoát nhất, rằng rất nguy hiểm khi mua một tấm bằng giả hoặc tuyên bố rằng bạn có một tấm bằng mà bạn không đạt được. Nó giống như đặt một quả bom thời gian trong lý lịch của bạn. Nó có thể nổ bất kỳ lúc nào, với những hậu quả thảm khốc. Những người bán bằng giả sẽ không bao giờ bị ảnh hưởng gì cả, nhưng những người mua chúng thường sẽ bị thiệt hại lớn lao. Và - đặc biệt là nếu "bằng" [mua] lại liên quan đến chuyện sức khỏe – người mua có thể bị tổn hại nghiêm trọng [7].

Về hai tác giả [bài này]

John B. Bear lấy bằng Tiến sĩ từ Đại học Quốc Gia Bang Michigan. Từ năm 1974, ông đã dành nhiều thời gian để điều tra và viết về giáo dục Đại học phi truyền thống. Năm 1977, ông thành lập Dịch vụ Tư vấn Học Đại Học để cung cấp các chi tiết hướng dẫn cho những người đi tìm lời khuyên cá nhân hơn là những gì mà một cuốn sách có thể đưa ra. Con gái của John là Mariah lấy bằng Thạc sĩ Báo chí tại Đại học New York và là Tổng biên tập của Degree.net Books. Bài viết này được viết từ phiên bản thứ 13 của cuốn “Sách Hướng Dẫn của Bear để lấy một Văn Bằng không theo cách truyền thống” “Bear's Guide to Earning Degrees Nontraditionally “ (nhà xuất bản Ten Speed Press, 1998). Cuốn sách bao gồm các trường dạy ban đêm và cuối tuần, bậc cao đẳng; trường y tế nước ngoài; lấy bằng qua Internet và bằng con đường e-mail khác; và những cách khác để có được bằng Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, Luật hoặc văn bằng Y khoa thông qua một số phương pháp phi truyền thống. Cuốn sách cũng liệt kê các trường học [dỏm] để tránh, có các phân tích về xu hướng giáo dục, và cung cấp thông tin về hơn một ngàn nguồn tin khác.

John Bear Mariah Bear
Trần Bích Đăng
chuyển ngữ
Theo Dân Luận

[1] United States Law - Luật Liên Bang http://en.wikipedia.org/wiki/Title_18_of_the_United_States_Code
[2] Các điều 1341, 1343, 1346 Luật Liên Bang: http://en.wikipedia.org/wiki/Mail_and_wire_fraud
[3] ở Mỹ có 3 loại nhà tù: do Liên Bang (Federal}, Tiểu Bang (States) và Quân Hạt (County) http://en.wikipedia.org/wiki/Incarceration_in_the_United_States
[4] Đại Học Bách Khoa Hà Nội bị dính chấu với “Đại Học Dỏm” Southern California University for Professional Studies (SCUPS) – nay mang tên California Southern University (http://www.calsouthern.edu/ )
Trên đây là các ông bà “Thạc, Tiến Sĩ” tốt nghiệp “Đại Học” Southern California University for Professional Studies (SCUPS). Xem http://www.scups.net/ (The SCUPS website previously hosted at www.scups.edu which was owned and operated by SCUPS since 1990 has been discontinued as of October 2007.) Qua cái link Visit the New Website thì Đại Học Dỏm này nay thành Đại Học Trực Tuyến “California Southern Univerity” (http://www.calsouthern.edu/ )
[5] Vụ án cáo buộc nhóm Truyền Giáo “Jim và Tammy Faye Bakke” gian lận
http://www.biography.com/people/tammy-faye-messner-9542346
[6] Class Action: kiện tập thể là một thủ tục kiện ở Mỹ mà Luật Sư đưa vụ việc ra Tòa nhân danh một số người nào đó - xem http://en.wikipedia.org/wiki/Class_action
[7] Xem website “Tạp Chí Giáo Sư Dỏm” (https://giaosudom.wordpress.com )

Một cuốn sách e-book về những phụ nữ đấu tranh cho quyền con người ở châu Á vừa được tái bản. Cuốn sách bao gồm 17 chân dung của những phụ nữ quả cảm trong những quốc gia và vùng lãnh thổ mà nhân quyền bị đàn áp dữ dội. Hải Ninh có bài tường trình về sự kiện ra mắt cuốn sách nói trên tại Washington D.C. hôm 2/3 vừa qua.


Buổi ra mắt cuốn sách “It’s not OK” tại Washington DC hôm 2/3/2015.

“It’s not OK”

Tựa đề của cuốn sách vừa được tái bản có tên “It’s not OK”. Đây là một câu nói thảng thốt của một phụ nữ trên toà án, khi mà chồng của án của chồng bà bị kéo dài thêm 8 năm. Cuốn sách là bộ sưu tập 17 chân dung của phụ nữ châu Á trong cuộc đấu tranh vì nhân quyền tại cộng đồng của họ. Có những người tự nguyện dấn thân vào con đường này, tuy nhiên cũng có người bị hoàn cảnh xô đẩy. Mỗi câu chuyện là một lời chứng thực cho lòng quả cảm và sự quyết tâm của những phụ nữ đó.

  Chúng tôi mất tới một năm để hoàn thành cuốn sách này vì rất khó khi liên lạc với phần lớn những phụ nữ nói trên. Một số chúng tôi bị mất liên lạc với họ từ đầu năm, một số bị giam lỏng trong khi đó đường liên lạc điện thoại của chúng tôi bị chặn.

-Bà Catherine Antoine
Bà Catherine Antoine, tổng biên tập của RFA Online và người phụ trách xuất bản cuốn sách, cho biết về sự ra đời của “It’s not OK.” như sau:

“Cũng vào thời điểm này năm ngoái, quanh ngày Phụ nữ Quốc tế, chúng tôi bắt đầu nghĩ tới vấn đề phụ nữ tại các nước và đặt câu hỏi, chúng tôi có thể làm gì. Sứ mệnh của Đài Á châu Tự do là đưa những thông tin bị kiểm duyệt tại các quốc gia không có tự do báo chí và phần lớn nguồn tin của chúng tôi là những phụ nữ: mẹ, vợ, em gái của những nhà hoạt động bị bỏ tù vì những ý tưởng của họ. Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc đưa những câu chuyện của những phụ nữ này ra ánh sáng vì thường là họ phải trả những giá rất đắt.

Chúng ta thường nói đến tên tuổi những nhà hoạt động nổi tiếng nhưng không hề nhắc đến vợ của họ dù người vợ phải đối mặt với những sự trừng phạt cũng phải tương đương với người chồng. Chúng tôi mất tới một năm để hoàn thành cuốn sách này vì rất khó khi liên lạc với phần lớn những phụ nữ nói trên. Một số chúng tôi bị mất liên lạc với họ từ đầu năm, một số bị giam lỏng trong khi đó đường liên lạc điện thoại của chúng tôi bị chặn. Chúng tôi muốn vinh danh lòng quả cảm của những phụ nữ này và hướng sự chú ý vào họ quanh thời điểm này trong năm về cuộc sống và cuộc đấu tranh của họ.”


Hai phụ nữ đến từ Việt Nam

Mỗi phụ nữ được phóng viên thuộc 9 ban tiếng địa phương của Đài Á châu Tự do chọn ra sau nhiều năm viết bài và phỏng vấn. Cuốn e-book cũng bao gồm những nội dung đa phương tiện, bao gồm video, đồ hoạ và hình hoạ. Những phụ nữ được khắc hoạ chân dung trong cuốn sách này bao gồm những phụ nữ đến từ Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar, Campuchia, Bắc Hàn, Tây Tạng, Lào và Tân Cương.

Chân dung tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh qua nét vẽ của hoạ sĩ Trần Lân - Paris.
Trong số 17 người này có hai phụ nữ đến từ Việt Nam là Trần Thị Nga và Đỗ Thị Minh Hạnh. Trần Thị Nga là một nhà hoạt động nhân quyền tại Hà Nam. Chị Nga và con trai cáo buộc công an Việt Nam bắt cóc và đánh đập chị tàn bạo. Còn Đỗ Thị Minh Hạnh là một cô gái trẻ, trở thành nhà đấu tranh vì quyền lao động khi cô mới 20 tuổi.

Bà Nguyễn Thể Bình, giám đốc tổ chức Nhân quyền cho Việt Nam, cũng có mặt trong sự kiện ra mắt cuốn sách “It’s not OK.”. Bà nhận định về phong trào đấu tranh của phụ nữ châu Á có những thuận lợi nhất định. Bà nói:

“Một điều thú vị trong các phong trào đấu tranh vì nhân quyền ở các quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam là phụ nữ nhận ra rằng ngày càng có nhiều người phụ nữ nhận ra rằng họ phải làm chủ vận mệnh của mình. Vì thế, họ ngày càng trở nên xông xáo hơn. Đúng là trong thời điểm đầu của phong trào, họ có một chút lợi thế khi không bị cảnh sát hay giới an ninh đánh đập vì điều đó sẽ phản ánh xấu lên hình ảnh của quốc gia. Tuy nhiên, qua thời gian, họ nhận ra sức mạnh của bản thân, họ có được sự đoàn kết và tiến tới đấu tranh cho quyền sở hữu đất, quyền lao động hay quyền phụ nữ nói chung. Họ cũng mạnh dạn lên tiếng phản đối chính phủ và tìm tới sự ủng hộ của chính phủ các nước ngoài nhằm giúp cho nhiều người hiểu về cuộc đấu tranh vì nhân quyền của họ.”

Về sự gia tăng ngày càng nhiều của những nhà đấu tranh nữ trẻ, bà Bình nhận định:

“Với tư cách là những người trẻ, họ chứng kiến những gì cha mẹ họ phải trải qua, chẳng hạn như cha mẹ họ bị bỏ tù, ví dụ như trường hợp của tôi, cha tôi bị sát hại trong trại cải tạo của chính quyền Việt Nam. Những nhà hoạt động trẻ họ đã gánh trên vai trách nhiệm thay đổi tương lai, họ nhận thấy việc cha mẹ họ bị chính quyền đàn áp và họ không muốn bị hứng chịu hoàn cảnh tương tự. Với tư cách là người trẻ, họ thấy rằng họ có nhiều sức mạnh hơn, họ có nhiều mối quan hệ qua Internet và vì thế họ có thể kết nối với cộng đồng bên ngoài tốt hơn bậc cha mẹ của họ. Nhất là khi họ thấy những biến chuyển sau các phong trào như Mùa xuân Ả rập hay ở Myanmar, những nhà đấu tranh ở Trung Quốc hay Việt Nam cảm thấy được khích lệ rất nhiều. Hơn thế nữa, sự ra đời của tầng lớp trung lưu ở các nước này cho phép giới này những thuận lợi về kinh tế mà bậc cha mẹ họ không có được.”

Bà Zin Mar Aung, từng bị kết án 28 năm tù giam vì tham gia phong trào đấu tranh dân chủ ở Myanmar, là một nhà hoạt động vì dân chủ xuất hiện trong cuốn e-book “It’s not OK.”. Vào năm 2009, bà bất ngờ được trả tự do sau khi mới thụ án được 11 năm. Sau khi tự do, bà thành lập trường về khoa học chính trị ở Yangon, thành phố lớn nhất Myanmar. Bà được giải thưởng quốc tế dành cho phụ nữ về sự can đảm năm 2012. Zin Mar cho biết mục tiêu khi trở về Myanmar lần này là tuyển mộ những phụ nữ quan tâm tới chính trị và giúp họ tham gia nhiều hơn vào chính trường.

Cuốn sách “It’s not OK.” được xuất bản bằng tiếng Anh. Độc giả muốn tìm đọc có thể tải về miễn phí trên iTunes hoặc Google Play hoặc truy nhập trực tiếp vào trang web tại địa chỉ www.womensrights.asia.

Hải Ninh tường trình từ Washington DC.

Hải Ninh
phóng viên RFA
Theo RFA
 
Copyright © 2011. Tiếng Chim Việt - All Rights Reserved
Proudly powered by Blogger