Tiếng Chim Việt
Tin Nóng :
Bài Mới

Đăng bởi BTV VANEWS on Thứ Hai, ngày 04 tháng 5 năm 2015 | 19:22

Tôi vốn là người làm nghề nghiên cứu văn học. Trong cái nghề thuộc loại công tác tư tưởng này, những năm trước 1975, tôi chỉ được phép đọc các sách báo miền Bắc, còn sách vở miền Nam bị coi như thứ quốc cấm.

Có điều, không phải chỉ là sự tò mò, mà chính lương tâm nghề nghiệp buộc tôi không thể bằng lòng với cách làm như vậy.

Tôi cho rằng, muốn hiểu cặn kẽ văn học hiện đại, phải hiểu văn học cổ điển; muốn hiểu văn học Việt Nam phải hiểu văn học thế giới. Thế thì để hiểu văn học miền Bắc làm sao lại lảng tránh việc nghiên cứu văn học miền Nam được.

Đối với giáo dục cũng vậy. Từ sau 30-4-75, tôi vẫn sống ở Hà Nội. Sự tiếp xúc với giáo dục miền Nam (dưới đây viết là GDMN), chỉ dừng ở mức sơ sài bề ngoài.

Tuy nhiên, do việc tìm hiểu chính nền giáo dục miền Bắc (GDMB) ở tôi lâu nay kéo dài trong bế tắc, trong khoảng mươi năm gần đây tôi tìm thấy ở GDMN một điểm đối chiếu.

Lúc cảm nhận được phần nào sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Bắc-Nam 1954-1975 cũng là lúc tôi hiểu thêm về nền giáo dục mà từ đó tôi lớn lên và nay tìm cách xét đoán. Tôi không chỉ muốn nêu một số đặc điểm mà còn muốn xếp loại nền giáo dục tôi đã hấp thụ.

Bài viết này có thể được đọc theo chủ đề khác đi một chút: Nhận diện giáo dục Hà Nội từ 1975 về trước qua sự đối chiếu bước đầu với giáo dục Sài Gòn.

KHÁC BIỆT NGAY TỪ HOÀN CẢNH HÌNH THÀNH

Chỗ khác nhau giữa GDMN và GDMB xuất phát trước tiên từ hoàn cảnh xã hội mỗi nền giáo dục đó được đặt vào, từ đó mà nó lớn lên là cái điểm đích mà nó hướng tới phục vụ.

Ngay từ những năm 1948 - 50, nền giáo dục tự phát trước tiên đã hình thành ở các vùng hồi trước gọi là vùng tự do; không chỉ Việt Bắc, những vùng tự do này tồn tại ở cả Nam bộ, rồi nam và trung Trung bộ, rồi tập trung và có ý nghĩa nhất với tương lai giáo dục là những quan niệm, những cách hình thành, các trường sở… về sau.

Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh.

Nhờ có tinh thần yêu nước và những bài bản đã học được trong các nhà trường Pháp thuộc, nên ban đầu, nền giáo dục này có tạo được một số hiệu quả nào đó.

Việc kéo nhau lên Việt Bắc lúc đầu ai cũng nghĩ là chỉ một hai năm. Sống tạm bợ ít ngày cần gì. Nhưng rồi đường lối trường kỳ kháng chiến tiếp thu được từ Trung quốc được quán triệt khiến mọi mặt hoạt động được đặt lại trong đó có công tác giáo dục. Làm theo ý chí hơn khả năng thực tế. Quan niệm giáo dục chưa hình thành cũng phải làm.

Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng.

Trong khi ở khu vực kháng chiến hình thành nền giáo dục như trên thì, ngay từ trước 1954, một nền giáo dục do người Pháp mở từ trước cũng đã tồn tại ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, và rõ nhất là ở Sài Gòn, và sau này chuyển giao, phát triển trở thành giáo dục miền Nam.

Đối tượng của những so sánh đối chiếu dưới đây là hai thực thể quá khác nhau, còn phải nghiên cứu công phu, ý kiến của chúng tôi chỉ mới là những phác thảo sơ bộ.

CHUẨN VÀ PHI CHUẨN

Đáng lẽ khi hòa bình lập lại những người kháng chiến đã trở về Hà Nội cái tinh thần giáo dục phi tiêu chuẩn hôm qua cần phải vượt qua, thì -- như một thói quen và kết quả của một hiểu biết thiển cận -- nó lại ăn sâu vào mọi mặt, chi phối cách hình thành và những định hướng lớn của GDMB

Nói quá lên thì có thể bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng.

Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm -- rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng.

Ví dụ một trường đại học trước tiên phải có đủ bộ phận giảng viên đảm nhiệm việc giảng dạy theo những quy định quốc tế. Ở các nước gọi là đang phát triển, một trường đại học chỉ được thành lập khi có một bộ phận nòng cốt là những giáo sư đã học tập ở những Sorbone, Oxford hoặc những trường tương tự… trở về.

Đâu người ta cũng hướng tới những yêu cầu này để noi theo, nay chưa làm được thì mai làm. GDMN cũng theo, GDMB thì không.

Trên danh nghĩa đại học VN cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy, nhưng đó là ta phong với nhau để làm việc, chứ thực tế thấp hơn hẳn chuẩn mực quốc tế “một cái đầu”.

Rộng hơn câu chuyện giáo viên là chuyện cơ sở vật chất và không khí học thuật của một trường đại học.

Rồi rộng hơn câu chuyện của riêng ngành đại học là chuyện của mọi cấp học.

Tính phi chuẩn bao trùm trong mọi lĩnh vực, từ trường sở, sách giáo khoa, cách cho điểm, cách tổ chức thi cử…, cho tới chất lượng dạy và học.

Sau mấy chục năm chiến tranh, cái sự làm lấy được làm theo ý chí đã thành chuẩn mực duy nhất, nó chi phối tất cả, khiến giáo dục VN có cách tồn tại, cách vận hành riêng chẳng giống ai. Các trường mới lập ra phải theo trường cũ, sau giải phóng thì miền Bắc buộc miền Nam phải theo.

Tạm ví một cách thô thiển: như trong khi người ta đi thì mình phải bò phải lết, vậy mà vẫn tự hào rằng mình cũng đang đi, chứ đâu có đứng yên.

KHÁC BIỆT TRONG QUAN NIỆM

Về bộ máy giáo dục

Trong giờ Hóa học (Thời Pháp thuộc)
Có dịp tìm hiểu lại nền giáo dục trước 1945 và nền giáo dục ở Sài Gòn trước 75, tôi nhận ra một sự thật -- hồi đó, bản thân giáo dục là một hệ thống quyền lực. Nó có nguyên tắc tổ chức riêng và những con người riêng của nó.

Nhà thơ Chế Lan Viên có lần nói với Nguyễn Khải và Nguyễn Khải về kể lại cho tôi một nhận xét. Ông Chế bảo, ở xã hội cũ, một viên tri huyện tuy vậy vẫn phải nể nhà sư trụ trì mấy ngôi chùa lớn, hay các vị đỗ đạt cao nay không làm gì chỉ về mở trường trong vùng.

Còn các chức danh đốc học, giáo thụ, huấn đạo – các học quan tương ứng với tỉnh, phủ, huyện -- là người do triều đình cử, chứ không phải do chính quyền địa phương cử, hoặc nếu địa phương cử thì triều đình cũng phải duyệt.

Tôi cảm thấy điều này được GDMN tiếp tục. Nền giáo dục ở đây do những người thành thạo chuyên môn quyết định.

Còn ở miền Bắc thì hoàn toàn ngược lại.

Nhiều vị sư do địa phương phân công vào chùa hoạt động, hoặc sau khi vào chùa, lấy việc cộng tác với chính quyền làm niềm vinh dự, nghĩa là trong hệ thống sai bảo của chính quyền theo nghĩa đen.

Còn người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do Ủy ban cử sang.

Cả những hiệu trưởng cũng vậy, phải do Ủy ban thông qua.

Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo nguyên tắc là ai tài giỏi cho đi phụ trách các ngành chính trị kinh tế. Còn văn hóa giáo dục sẽ phân công cho những người kém thế lực và kém năng lực.

Đánh đấm ở chiến trường hay vật lộn với sản xuất với thị trường mới khó, chứ việc quản mấy ông thầy với đám học trò ranh, ai làm chẳng được – người ta hiểu vậy.

Một người bạn già có hiểu nhiều về giáo dục ở thời Việt Nam dân chủ cộng hòa kể với tôi là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong chính phủ liên hiệp thành lập 2-1946 là Đặng Thai Mai.

Nhưng về sau, do sinh viên trường đại học Đông dương đề xuất thắc mắc, Đặng Thai Mai chỉ tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, nên phải thay bẳng Nguyễn Văn Huyên có bằng tiến sĩ Sorbone Đại học số một của Pháp.

Việc chọn người tham gia chính phủ thời kỳ 1945-46 có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng tôi tin chắc rằng thời ấy việc cử Bộ trưởng Bộ giáo dục buộc phải tuân theo nhiều chuẩn mực nghiêm khắc, chứ không phải à uôm hoặc phe cánh chạy chọt, như hiện nay.

Vả chăng vấn đề không phải chỉ riêng ông bộ trưởng, mà là mọi cấp quan chức của giáo dục.

Một trong những chuyện vui vui xảy ra với nền giáo dục hôm nay là chỉ thị của Bộ gíáo dục khoảng cuối 2013 cho các tỉnh, khuyên cơ quan chính quyền tỉnh nên cẩn thận và ráo riết trong việc kiểm soát các tin tức tiêu cực từ các cuộc thi.

Nó là bằng chứng cho thấy giáo dục đã nát như thế nào và người ta cố tình che giấu như thế nào.

Nhưng nó cũng tố cáo sự phụ thuộc hoàn toàn của nhà trường vào nhà cầm quyền. Giáo dục trở thành việc nhà của địa phương rồi, người ta cho biết cái gì thì dân được biết cái đó.

Một kỷ niệm nữa có liên quan tới việc giáo dục phụ thuộc chính trị một cách thô thiển. Những năm 55 – 58, tôi học cấp II Chu Văn An. Trường ở ngay cạnh Chủ tịch phủ. Hễ có các vị quan khách nước ngoài tới thăm, xe đưa từ sân bay Gia Lâm về Ba Đình, là bọn tôi được lệnh bỏ học, ra đứng đường để hoan nghênh các vị khách quý.

Ở các địa phương việc huy động thầy trò vào các công việc gọi là công ích, là công tác chính trị của địa phương, càng phổ biến.

Người ta tự coi mình đương nhiên có quyền can thiệp vào mọi việc của nhà trường. Còn những việc như thế, làm hại đến chất lượng giáo dục ra sao, thì không ai cần biết.

Những nguyên tắc căn bản của giáo dục

Mấy năm gần đây hoạt động của GDMN được nhắc nhở nhiều trên báo chí, nhất là trên mạng.

Nhờ thế, bọn tôi có thêm dịp để nghĩ lại về nền giáo dục mà đến nay ít được biết tới.

Trong một bài mang tên Nền giáo dục ở miền Nam 1954-75, một nhà giáo dục đồng thời trước đây là một quan chức trong nghề (như trên đã nói, quan chức giáo dục ở miền Nam khác hẳn quan chức miền Bắc), ông Nguyễn Thanh Liêm, đã nhắc lại những nguyên tắc căn bản của nền giáo mới là nhân bản khai phóng dân tộc những nguyên tắc này đã ghi trong Hiến pháp VNCH 1967.

Đối chiếu với giáo dục miền Bắc, sơ bộ tôi thấy đại khái thấy hai nguyên tắc đầu cũng thường được Hà Nội nhắc tới, nhưng được giải thích khác đi, và nguyên tắc thứ ba thì hoàn toàn người làm GDMB không có một ý niệm gì hết.

Về tính dân tộc

Ta hãy đọc lại cách giải thích của các nhà giáo miền Nam. Ở đây, bảo đảm tính dân tộc, phát triển tinh thần quốc gia của học sinh có nghĩa

giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

http://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/

Các nhà giáo miền Bắc, trên đại thể, cũng nói thế. Nhưng điểm nhấn thì khác. Trong cách giải thích của người làm giáo dục Hà Nội, tính dân tộc trước tiên là việc dân mình tự làm lấy giáo dục của mình. Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại. Chúng tôi làm lấy và đôi khi cố ý làm ngược với những bài bản thời thuộc địa.

Đây là cách hiểu về tính dân tộc mà giới văn hóa tư tưởng đề xuất và được coi là tư tưởng chỉ đạo. Thì cũng là cách hiểu trong giáo dục.

Một khía cạnh khác trong cách hiểu về tính dân tộc của miền Bắc. Không phải là những người làm giáo dục không biết chỗ yếu kém vốn có. Để tự trấn an, người ta biện hộ rằng trong cái vẻ luộm thuộm nhếch nhác, hình như GDMB đang trở lại với nền giáo dục của ông cha ta ngày xưa thời trung đại, chỉ cốt phát huy tinh thần hiếu học của con người.

Dân tộc trong trường hợp này, dân tộc đồng nghĩa với “ta về ta tắm ao ta”, từ chối những đổi mới hiện đại.

Cũng chính là những lý do được viện dẫn khi, trong đời sống văn hóa, người ta kéo nhau trở lại với các phong tục cổ hủ và khuếch trương mê tín đến một mức độ người xưa không thể tưởng tượng.

Trong khi đó, như vừa dẫn ở trên, tính dân tộc được các nhà GDMN hiểu là phải hướng về một thứ dân tộc hiện đại.

Về tính nhân bản

Trên giấy tờ văn bản, chẳng bao giờ giới văn hóa giáo dục miền Bắc phủ nhận tính nhân bản, tuy là trong thực tế người ta rất ngại nói tới.

Phần thì xã hội ở đây đã xem đấu tranh giai cấp là động lực phát triển; phần nữa thì đang trong thời chiến tranh, không thể nói nhiều đến tình người, nó xâm hại ý chí chiến đấu.

Khi cần phải nói chuyện với thế giới, các nhà tư tưởng miền Bắc cũng công nhận nhân đạo chủ nghĩa là lý tưởng tốt đẹp và giáo dục phải có nhiệm vụ hướng tới.

Nhưng trong thực tế, cách lý giải nghĩa về chủ nghĩa nhân đạo thường giản đơn và cổ lỗ. Lại thường giải nghĩa rất mới: “chủ nghĩa nhân đạo cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu chống lại mọi áp bức bất công”.

Trong bài Đế quốc Mỹ phải là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta của Chế Lan Viên, người ta còn thấy những câu thơ mà có lẽ con người ở các xã hội khác không sao hiểu nổi:

--Miền Nam ta ơi

Cái hầm chông là điều nhân đạo nhất

– Ngọn súng trường ta ơi ngọn súng rất nhân tình

Giới giáo dục miền Bắc cũng theo sự chỉ đạo đó.

Cách giải thích về nhân bản của các nhà giáo miền Nam ngược hẳn. Theo tôi hiểu, nó gần với cách hiểu của phạm trù này ở các xã hội hiện đại.

Hãy thử đọc một số sách thuộc tủ sách giáo dục của nhà xuất bản cũng tên là Trẻ, in ra ở Sài Gòn khoảng mấy năm sau 1970.

Lúc này, một nhóm các nhà giáo dục, có lẽ mới đi học Anh Mỹ về, lập nhóm và đã công bố nhiều tài liệu mới viết có, vừa được dịch có.

Khi bàn về mục đích giáo dục, Nguyễn Hòa Lạc viết:

Mục đích tối thượng của giáo dục là làm thế nào giúp con người đạt được nhân cách, các bản ngã đích thực của mình, hầu có thể sống trọn kiếp nhân sinh […] nghĩa là giúp họ thể hiện được con người của mình trong ý nghĩa “con người là một hiện hữu tại thế, một hữu thể có lý trí và tự do, vừa suy tư vừa hành động”.

Lê Thanh Hoàng Dân- Trần Hữu Đức... Các vấn đề giáo dục nxb Trẻ,1970 tr 209

Cách hiểu như thế này cố nhiên không bao giờ được đề lên như mục đích của GDMB. Với các nhà giáo Hà Nội, nhất là vào thời kỳ sau khi Hà Nội được tiếp quản từ tay người Pháp (10-1954), không làm gì có những con người chung chung. Mỗi con người đều thuộc về một giai cấp do đó họ phải sự chỉ đạo của các đảng phái đại diện giai cấp của họ. Cách hiểu của GDMN:

chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

http://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/

dù có được coi là đúng đi nữa, cũng không bao giờ được ứng dụng. Mà trong thực tế, lại làm ngược.

Trước sau, với nền GDMB, chấp nhận nhân bản theo nghĩa hiện đại, và đặt vấn đề tôn trọng cá tính của mỗi cá nhân, bao giờ cũng là một chuyện quá phiền phức, giá có công nhận là đúng nữa thì hoàn cảnh hiện thời không cho phép người ta tuân thủ.

Vào khoảng những năm 1960, có cả một cuộc vận động chống chủ nghĩa cá nhân.

Thế thì làm sao có thể tính chuyện nghiên cứu về con người cá nhân, và giúp lớp trẻ thực hiện bản thể cá nhân vốn có trong họ được!

Cái luận điểm từng được thống nhất nêu ra trong các văn bản miền Nam

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.

Giáo dục Việt Nam cộng hòa http://vi.wikipedia.org/wiki/

phải được coi là xa lạ và nếu có ai nghĩ vậy thì cần phê phán.

Chúng tôi không dẫn lại đây các văn kiện có tính chỉ đạo đối với GDMB trong đó việc đào tạo con người thành những công cụ đắc lực cho cuộc chiến đấu trước mắt được nhấn mạnh. Chỉ xin lưu ý một điểm, đó không phải là phát minh của các nhà chỉ đạo GDMB nói chung mà còn là nguyên lý chỉ đạo giáo dục ở một nước mà miền Bắc lấy làm mẫu như giáo dục Nga xô viết.

Trong cuốn Các vấn đề giáo dục thuộc tủ sách giáo dục nxb Trẻ đã nói, có một phần lớn điểm sơ lược về giáo dục nước ngoài, cả phương Đông lẫn phương Tây, chắc là do kê cứu các sách nghiên cứu của Anh Mỹ và Pháp mà viết lại. Phần viết về giáo dục Nga kết lại như sau:

--Xét chung thì nền giáo dục ở Nga rất thực tiễn và khoa học, nhưng nó chỉ là thứ giáo dục một chiều, nhăm biến con người thành một công cụ sản xuất [và ở VN là chiến đấu - VTN] tới mức tối đa. Một khi con người đã trở thành công cụ của guồng máy cộng sản thì mất hết nhân tính. Do đó chúng ta có thể kết luận rằng giáo dục xô viết tuy thực tiễn và hữu hiệu nhưng lại phi nhân tính. (Sđd tr. 228)

Có thể mượn để nói về GDMB.

Về tính khai phóng

Trong mấy chữ gọi là nguyên tắc căn bản trong các tài liệu GDMN, đối với bọn Hà Nội chúng tôi, chữ khai phóng là hơi lạ.

Mở Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng (Khai trí S.1975), thấy ghi khai phóng tức mở mang và buông thả, ý nói làm cho tốt đẹp hơn; không kìm giữ, mà trái lại, muốn giúp đỡ cho tiến xa hơn.

Thoạt đầu tôi thấy là trong một mức độ nào đó, khai phóng có vẻ gần với khái niệm hiện đại tiên tiến của miền Bắc, mấy chữ này thường dùng cả trong kinh tế lẫn giáo dục.

Về sau đặt khai phóng vào cái nền chung của các nguyên tắc căn bản của GDMN, tôi mới hiểu khai phóng gần với khái niệm cơ bản của nhân học hiện đại là tự do – và do đó quá mới mẻ với chúng tôi.

Trong cuốn Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới, do tổ chức Unesco bảo trợ biên soạn và chi phí xuất bản (bản dịch tiếng Việt của nxb Thế giới, H. 2004), phần viết về Thái Nguyên Bồi (1868-1940), có đoạn dẫn lại mấy ý của vị Hiệu trưởng sáng lập Đại học Bắc Kinh có liên quan tới phương hướng phát triển giáo dục của nước Trung Hoa thế kỷ XX.

Chúng ta phải được tự do tư tưởng và tự do ngôn luận và không để cho một trường phái triết học hay bất kỳ một loại hình tôn giáo nào giam hãm tư tưởng chúng ta. Trái lại chúng ta phải hướng tới những tư tưởng cao cả mang tính nhân loại, những tư tưởng sẽ tồn tại mãi, bất kể không gian và thời gian. Đó là nền giáo dục xứng đáng với tên gọi nền giáo dục toàn cầu.(sđ d tr138)

Giáo dục giúp cho thế hệ trẻ có cơ hội phát triển trí lực và hoàn thiện tính cách cá nhân, đóng góp cho nền văn minh nhân loại. Bởi vậy giáo dục không hể trở thành công cụ đặc biệt giúp cho những kẻ muốn thao túng xã hội theo đuổi những mục đích xấu xa. Việc dạy dỗ tại nhà trường phải hoàn tòan trao cho các nhà giáo độc lập không bị ảnh hưởng bởi bất cứ đảng phái chính trị hay tôn giáo nào (sđ d tr 143).

Tinh thần khai phóng như vậy đã trở thành một khía cạnh chủ yếu của quan niệm nhân bản như trên đã nói.

Tinh thần khai phóng này cũng chi phối cách các nhà GDMN hiểu khác đi về tính dân tộc, so với nội dung được GDMB chấp nhận.

Các nhà GDMN từng hào hứng nói về xu thế hội nhập đến rất sớm của mình. Cách nói của Nguyễn Thanh Liêm:

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

http://hocthenao.vn/2013/10/16/nen-giao-duc-o-mien-nam-1954-1975-trich-nguyen-thanh-liem/

là theo tinh thần khai phóng vừa nói.

Với GDMB, nói dân tộc là để từ chối khai phóng. Còn với GDMN, chính là cần khai phóng thì mới giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt để.

Nhìn theo cách nào thì khai phóng mà các nhà giáo dục ở Sài Gòn đã nói cũng bao hàm một ý nghĩa mà GDMB không thể chấp nhận được. Thậm chí phải nói là GDMB đã làm ngược lại.

Hẳn là không xa sự thật lắm nếu kết luận trong khi giáo dục thế giới và GDMN là khai phóng thì GDMB là khép kín. Trong khi GDMB chỉ hướng tới các mục đích trước mắt – một tinh thần thiển cận sát mặt đất--, thì tinh thần khai phóng mà GDMN muốn xây dựng bao giờ cũng giúp cho người ta hướng tới tương lai.

Trong cuốn Các vấn đề giáo dục đã nói, ở tr 204 tập I, tôi còn thấy các tác giả dẫn lại một câu của Kant:

Mục đích của giáo dục là huấn luyện trẻ không phải chỉ nhằm vào sự thành công của chúng trong tình trạng xã hội hiện tại mà nhằm một tình trạng có thể tốt đẹp hơn, hợp với một quan niệm lý tưởng của nhân loại (sđ d tr 204).

GD MN nhằm vào những mục đích như thế mà GDMB thì không.

ĐOẠN KẾT

Giống như xã hội nơi đây, sự phát triển giáo dục ở miền Bắc đi theo một cái mạch phải nói là không bình thường.

Nếu GDMN tiếp nối cái mạch giáo dục của nhiều nước trên thế giới và trực tiếp là nền giáo dục VN trước 1945 thì GDMB, xét theo cả chặng đường dài năm sáu chục năm, trong khi cố tìm cốt cách riêng của mình, hóa ra lại chẳng tuân theo quy luật nào cả.

Nếu GDMN được triển khai theo một đường hướng khoa học của thế giới hiện đại thì GDMB lại có những khía cạnh như trở lại thời tiền hiện đại.

Cần nói thêm là trong khi phải làm giáo dục một cách mò mẫm, những người làm giáo dục ở miền Bắc trước 1975 đã luôn luôn tự nhủ rằng chúng ta đang làm một cuộc cách mạng trong giáo dục và giáo dục ta đang là một nền giáo dục tiên tiến.
Đó là một ý nguyện chính đáng.

Trong chiến tranh, Hà Nội hoàn toàn khép kín. Muốn thì cũng muốn lắm, nhưng trong hoàn cảnh đóng cửa cách ly với thế giới, làm gì có chuyện hội nhập theo đúng nghĩa của nó.

Cuộc sống trì trệ kéo dài.

Đối chiếu với những điều bọn tôi được dạy bảo từ nhà trường phổ thông và sau này từng coi là phương hướng suy nghĩ, với các tài liệu mới đọc được, càng thấy trong khi khác biệt với GDMN, thì GDMB cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được GDMN đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả.

Mươi năm gần đây, tình hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học. Nhưng họ chỉ lo được cho gia đình riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.

Đã in tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN số 7-8 (114-115) năm 2014, số chuyên đề GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954- 1975)

Vương Trí Nhàn
Theo Blog Vương Trí Nhàn

Người dân Miên Nam cố gắng vượt hàng rào đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn vào ngày 29 tháng 4, 1975 dể được lên trực thăng di tản.  South Vietnamese civilians try to reach evacuation helicopters at the US embassy in Saigon on April 29, 1975. Source: AP

     
Bốn mươi năm sau khi ba quốc gia Đông Dương lọt vào tay của phe cách mạng cộng sản chúng ta vẫn còn xa mới có được một sự đồng thuận về chuyện gì đã thật sự xảy ra và nguyên nhân vì sao.

Xe tăng của Bắc Việt lăn qua cánh cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn, đánh dấu sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Nguồn: AP
Đây không chỉ là vấn đề về việc cần phải nghiên cứu thêm. Nó còn là vấn đề của những người viết sử cần phải từ bỏ định kiến chính trị đầy cảm tính của mình và xem xét những tai biến này một cách khách quan hơn.

Sự sụp đổ của Nam Việt Nam, Lào và Cambodia 40 năm trước đây là một thảm hoạ tinh thần đối với người dân Đông Dương và một thất bại chiến lược của phương Tây.

Trong các nhà nước bán độc tài tham nhũng, người dân của ba nước này bị buộc phải sống dưới bộ máy tham nhũng và độc tài, nơi không có một tổ chức độc lập nào tồn tại được với chính quyền. Cơn ác mộng này kéo dài đến hơn 15 năm.

Ở miền Nam Việt Nam, hàng trăm sĩ quan quân đội cao cấp và những nhà lãnh đạo chính trị bị hành quyết và hàng trăm nghìn cựu sĩ quan quân đội và công chức, cũng như lãnh đạo của các đảng phái chính trị độc lập và các nhà đứng đầu tôn giáo bị giam giữ trong các trại "cải tạo" cưỡng bức lao động mà không bị truy tố về bất cứ tội danh nào, trong thời hạn lên đến 17 năm.

Chỉ sau khi những người lãnh đạo cách tân xuất hiện vào những năm 1990 mới chấm dứt việc giam giữ đối với đa số những con người vô tội này.

Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Lào.

Tại Cambodia, hàng trăm nghìn người dân vô tội bị hành quyết và hơn một triệu người đã chết vì đói khát và bệnh tật dưới chính quyền Khmer Đỏ. Sau đấy một cuộc chiến tranh giữa những người cộng sản chiến thắng đã dẫn đến việc chiếm đóng của Việt Nam tại Cambodia vào cuối năm 1978, kéo dài đến 10 năm sau.

Và Hoa Kỳ cũng gánh chịu những hệ quả chiến lược. Thất bại này đã tạo ra một "hội chứng Việt Nam", dẫn đến sự do dự rất lớn về việc sử dụng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ để can thiệp vào các cuộc xung đột tại các nước đang phát triển, ngay cả khi lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ bị đe doạ.

Liên Xô, vốn trước đấy đã nể nang sức mạnh của Hoa Kỳ trên toàn thế giới, đã bắt đầu một cuộc tấn công tại Thế giới thứ Ba để ủng hộ phong trào cách mạng Mác Xít, đặc biệt là ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Dưới sự yêu cầu của Moscow, hàng nghìn vũ khí tịch thu của Hoa Kỳ đã được bí mật vận chuyển từ Hà Nội sang Havana để cuối cùng đến tay của du kích quân Mác Xít tại El Salvador. Màn trá hình này đã tạo ra khó khăn cho chính quyền Reagan trong việc chứng minh Liên Xô đang hậu thuẫn quân nổi dậy.

Những mâu thuẫn trong Chiến tranh Lạnh này, đặc biệt tại Trung Mỹ, đã làm chia rẽ thêm tình hình chính trị của Hoa Kỳ.

Dù kết thúc đầy thảm hoạ của cuộc chiến tranh Việt Nam rất nghiêm trọng, việc phân tích lịch sử cuộc chiến vẫn bị sai sót trầm trọng. Có năm giả định phổ biến về Chiến tranh Việt Nam như là tiền đề của đa số các học giả, nhà báo và bình luận gia, họ xem nó như là một trong những giai đoạn bi thảm nhất về chính sách đối ngoại trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ và Úc. Nhưng những giả định này, vốn được lồng vào những cuốn sách đoạt giải thưởng và vô số các phim tài liệu truyền hình, thì đều thiếu chứng cứ.

1. Cộng sản Việt Nam, kẻ thù thời chiến của Hoa Kỳ, thật ra là những người theo chủ nghĩa dân tộc

Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, là người đầu tiên khởi xướng ra quan điểm rằng ông và các đồng chí của mình thực chất là những nhà dân tộc chủ nghĩa. Mục đích của ông là để lôi cuốn tinh thần chống thực dân và xoa dịu sự e sợ rằng việc dính líu đến phe cộng sản sẽ tạo ra sự chống đối.

Mưu đồ này đã trở thành yếu tố chủ lực của bộ máy truyên truyền của cộng sản Việt Nam trong hàng chục năm trước 1975. Qua hơn hai thế hệ, nhiều nhà báo, trí thức và chính trị gia Pháp và Mỹ đều tin vào nó. Nhưng, thực tế là giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam thời chiến chủ yếu là những người cách mạng cộng sản. Họ muốn tạo ra một hệ thống chính trị theo khuôn mẫu của chính thể độc tài có sẵn tại Liên Xô và Trung Quốc.

Nếu họ thực sự là những nhà dân tộc, họ đã xây dựng nên một liên minh chính đáng bao gồm tất cả các lãnh đạo của những phe phái chính trị độc lập phi cộng sản chứ không giết hại những người ấy. Họ cũng sẽ thừa nhận các tổ chức tôn giáo độc lập khác.

Về chính sách đối ngoại, trong suốt hai thập niên Hồ Chí Minh là thành viên của Quốc tế Cộng sản (Comintern) có bản doanh tại Moscow và đã trung thành với những lợi ích đối ngoại của Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh, Hồ và các đồng chí của mình đã không noi gương, mà ngược lại lên án chủ trương cộng sản độc lập của Tito ở Nam Tư.

Trong bản di chúc của mình, Hồ đã không nhắc đến những anh hùng dân tộc Việt Nam trong nhiều thế kỷ của lịch sử, thay vì thế ông nói rằng: "Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác."

Một số người lại cho rằng chính quyền đang cai trị Việt Nam hôm nay đã từ bỏ chế độ độc tài và thật sự là một thể chế theo chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, chính quyền này đang được lãnh đạo bởi một thế hệ hậu cách mạng với quan điểm hoàn toàn khác với thế hệ mà Hoa Kỳ từng giao tranh.

2. Việt Nam không có tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ trong thời điểm Hoa Kỳ can thiệp.

Điều nay theo sau ảo tưởng rằng những người Việt cộng sản chủ yếu là những người theo chủ nghĩa dân tộc, rằng chiến thắng của họ không mang tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ. Nhưng lịch sử của thế giới cộng sản đã chứng tỏ ngược lại. Từ những năm cuối 1940, các thể chế dân chủ phương Tây đã bị dính chặt vào việc đối đầu với cuộc Chiến tranh Lạnh với thế giới cộng sản, được khởi sự bởi Liên Xô.

Những người cộng sản Việt Nam, thật sự theo chủ nghĩa quốc tế, luôn tin tưởng việc ủng hộ phong trào cách mạng cộng sản bên ngoài đất nước mình. Giả thuyết hiệu ứng domino được mọi tổng thống Hoa Kỳ từ Truman đến Nixon sử dụng, cho rằng nếu miền Nam Việt Nam phi cộng sản sụp đổ sẽ dẫn đến việc tất cả các quốc gia Đông nam Á bị rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản. Điều gì sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ không can thiệp vào Nam Việt Nam một phản biện không thể chứng minh được.

Nhưng vào thời điểm Hoa Kỳ quyết định can thiệp, cộng sản Việt Nam đã kiểm soát các đảng cộng sản ở Lào và Cambodia, chiếm lĩnh những khu vực lớn trên đất Lào và đang ủng hộ cộng sản Thái Lan.

Nếu Nam Việt Nam rơi vào tay Bắc Việt Nam trong giai đoạn đầu đến giữa 1960, ít nhất là nước láng giềng Lào yếu hơn chắc chắn sẽ theo sau.

Điều này dẫn đến cuộc kháng chiến ở Thái Lan, vốn được Mao Trạch Đông của Trung Quốc ủng hộ mạnh mẽ, sẽ có một khu vực hậu cứ lớn sát bên Lào để lớn mạnh hơn.

Sự hậu thuẫn Trung-Việt đối với cuộc nổi dậy của cộng sản Thái sẽ buộc Mỹ, dưới hiệp ước SEATO, cũng phải can thiệp vào Thái Lan để hỗ trợ một đồng minh yếu kém về quân sự chống lại một cuộc nổi dậy do nước ngoài hậu thuẫn.

3. Chính phủ Hoa Kỳ thường xuyên lừa dối nhân dân Mỹ về cuộc chiến

Hầu hết các ví dụ được đưa ra chưa bao giờ chứng minh được rằng chính phủ đã nói dối. Chắc chắn đã có nhiều sai sót. Nhưng khi nào chính quyền cố tình nói dối?

Một ví dụ thường được đưa ra trong chiến tranh liên quan với nguồn gốc của cuộc chiến. Sách trắng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khẳng định rằng chiến tranh bắt đầu tại Nam Việt Nam vì sự xâm lấn của Bắc Việt Nam, qua việc Hà Nội xúi giục việc nổi dậy trong các khu vực kháng chiến miền nam mà họ kiểm soát. Những nhà phê bình nổi tiếng như nhà báo I.F. Stone và các học giả George Kahin và John W. Lewis, liên tục cho rằng cuộc nổi dậy ở miền nam không dính líu đến Hà Nội. Trong nhiều năm nhiều thành viên của phong trào phản chiến đã tin vào điều này. Khoảng 30 năm sau chiến tranh kết thúc, Hà Nội thừa nhận rằng chính phủ Hoa Kỳ đã nói đúng.

Sự kiện bị tố cáo là điều giả dối nghiêm trọng nhất liên quan đến quyết nghị Vịnh Bắc Bộ 1964. Cuộc tấn công được cho là của các tuần duyên Bắc Việt vào các tàu chiến Hoa Kỳ ở Vịnh Bắc Bộ vào tháng Tám 1964 dẫn đến việc tổng thống Lyndon Johnson đề xuất thành công một quyết nghị của quốc hội biện minh cho các hành động quân sự của Hoa Kỳ trong tương lai, bao gồm việc tấn công bằng không quân chống lại Bắc Việt Nam.

Sự thật về cuộc hải chiến này thì rất phức tạp. Rõ ràng là một tàu tuần duyên Bắc Việt đã tấn công một tàu chiến của Hoa Kỳ trong ngày 2 tháng Tám, không phải là ngày 4 tháng Tám. Nhưng tin tình báo của Hoa Kỳ về cuộc tấn công thứ hai là sai lạc.

Sau này Tổng thống Johnson đã nghi ngờ về cuộc tấn công thứ hai, nhưng hoàn toàn không rõ là ông đã nói dối vào thời điểm mà ông quyết định đề xuất quyết nghị cho quốc hội hay không.

Đấy là một trường hợp phán quyết vội vã thì đúng hơn.

Nhà báo - sử gia cấp tiến nổi tiếng Stanley Karnow cũng đồng ý về điều này, ông viết về cuộc tấn công thứ hai: "Nó không được cố ý bịa đặt, nhưng Johnson và nhân viên của mình đang tuyệt vọng tìm kiếm một nguyên do để ra tay mạnh mẽ, đã chộp lấy nó trong một hoàn cảnh mập mờ để hoàn thành một kế hoạch bất ngờ."

Sự dối trá được xem là nghiêm trọng nhất là việc tư lệnh chiến trường Hoa Kỳ là Tướng William Westmoreland sửa đổi tin tức tình báo quân đội về sứ mạnh của đối phương để bảo vệ bản thân và tổng thống Johnson khỏi xấu hổ về sự thiếu tiến độ của cuộc chiến. Báo cáo của Westmoreland năm 1967 bao gồm việc ông thấy được "ánh sáng cuối đường hầm".

4. Đồng minh Nam Việt Nam của Hoa Kỳ chiến đấu chống cộng sản không hiệu quả

Đây là một trong những ảo tưởng phổ biến nhất trong cuộc chiến. Đa số những người phản chiến chỉ ra sự sụp đổ của quân đội Nam Việt Nam vào tháng Ba - Tư 1975, sau khi Hoa Kỳ rút quân như là một bằng chứng. Nhưng đấy không phải là bằng chứng xác thực.

Đầu năm 1975, Nam Việt Nam không chỉ không còn lính Mỹ mà còn không có cả hỗ trợ không quân và đang thiếu thốn nhiên liệu, đạn dược dùng cho vũ khí của mình. Tình hình này là kết quả của việc quốc hội Hoa Kỳ đã tàn nhẫn cắt giảm viện trợ. Trong tình huống thiếu thốn mọi mặt như thế, ngay cả quân đội Hoa Kỳ cũng không thể chiến đấu được.

Một đánh giá quan trọng hơn về tính chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam được thể hiện qua tính hiệu quả của nó trong năm 1972, khi Bắc Việt Nam phát động sự kiện mà lúc ấy được xem là cuộc tấn công quân sự lớn nhất trong cuộc chiến. Trong năm đó, với nguồn nhiên liệu và đạn dược hậu cần đầy đủ, cộng thêm hỗ trợ của không quân Hoa Kỳ, đặc biệt là từ những chiếc B-52, lực lượng quân đội Nam Việt Nam hầu như đã giữ vững trận tuyến, thường là rất anh dũng.

Đến cuối chiến dịch tấn công đẫm máu vào tháng Chín 1972, Nam Việt Nam đã không mất một tỉnh lỵ nào.

Ảo tưởng này tồn tại một phần vì nhiều nhà báo và học giả chuyên phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ không thể tin rằng những người lính Việt Nam bình thường bị tổng động viên sẽ có tinh thần bảo vệ một chính quyền tham nhũng chống lại một kẻ thù có kỷ luật.

5. Việc Hoa Kỳ ném bom ở Cambodia dẫn đến sự phát triển của Khmer Đỏ

Một trong những ảo tưởng tai hại nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam là những cái chết của thường dân Cambodia trong việc Hoa Kỳ ném bom nước này đã là nguyên nhân phát triển của những tên sát nhân Khmer Đỏ. Những người ủng hộ nó như giáo sư đại học Yale Ben Kiernan chỉ ra việc tăng cường ném bom của Hoa Kỳ cũng như thực tế rằng Khmer Đỏ sử dụng những cái chết của thường dân qua việc ném bom để tuyên truyền như ngụ ý rằng đây là nguyên nhân duy nhất hoặc chủ yếu dẫn đến sự đi lên của Khmer Đỏ chống lại chính quyền Cộng hoà Khmer chống cộng.

Nhưng ngay cả nếu việc ném bom của Hoa Kỳ đã giúp Khmer Đỏ tuyển được quân, chúng ta cần hiểu biết nhiều hơn nữa trước khi kết luận ngay rằng việc này đã giúp họ giành được chính quyền. Ví dụ như chúng ta biết rằng việc Hoa Kỳ ném bom chắn chắn đã giết được rất nhiều quân Khmer Đỏ. Nhưng chúng ta không biết được bao nhiêu người chết, hoặc bao nhiêu đã gia nhập Khmer Đỏ vì việc ném bom của Hoa Kỳ.

Vì thế chúng ta không thể nào biết được việc Hoa Kỳ ném bom là nguyên nhân dẫn đến việc Khmer Đỏ được tăng thêm quân số.

Hơn nữa, còn có ba yếu tố khác có liên quan rõ rệt đến sự đi lên của Khmer Đỏ. Đầu tiên là vai trò của quân đội thiện chiến Bắc Việt tronng việc tấn công và tiêu diệt quân đội thiếu kinh nghiệm của Cộng hoà Khmer trong những năm 1970-72. Trong những lãnh thổ chiếm được, cộng sản Việt Nam đã dựng nên cơ cấu chính quyền của Khmer Đỏ.

Yếu tố thứ hai là vai trò của hoàng tử bị truất phế Norodom Sihanouk.

Khi tìm cách trả thù những người đã lật đổ ông vào tháng Ba 1970, Sihanouk đã đem quyền lực chính trị lớn lao của mình để ủng hộ những người cách mạng, và điều này đã bị Bắc Việt lợi dụng để vận động một tầng lớp lớn của giới nông dân bảo hoàng.

Yếu tố thức ba là vai trò khủng bố của Khmer Đỏ. Tại các làng mạc Cambodia bị họ chiếm đóng, việc ủng hộ hay chống đối Khmer Đỏ không phải là một lựa chọn dân chủ.

Vì thế việc ném bom của Hoa Kỳ, nếu có liên quan, cũng cũng lắm là một yếu tố nhỏ trong việc đi lên của Khmer Đỏ.

Thật đáng tiếc rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam đã sinh ra quá nhiều ảo tưởng mà 40 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt vẫn còn tồn tại. Chỉ trừ phi chúng ta nhận định lịch sử Chiến tranh Việt Nam một cách đúng đắn, các chính trị gia và giới công chúng có hiểu biết chắc chắn sẽ có thêm những quyết định sai lầm về sự khôn ngoan của việc can thiệp, và có thể là phương pháp tham chiến trong những xung đột quân sự tương lai.
     
Forty years after the collapse of the three states of Indochina to communist revolutionaries we are still far from a consensus on what really happened and why.

A North Vietnamese tank rolls through the gates of the Presidential Palace in Saigon, signifying the fall of South Vietnam. Source: AP
It is not just a question of more research needing to be done. It is also a matter of those who write history needing to abandon their emotional political prejudices and examine the calamitous events with greater objectivity.

The fall of South Vietnam, Laos and Cambodia 40 years ago was a moral disaster for the people of Indochina and a strategic setback for the West.

In place of corrupt and semi-authoritarian regimes, the peoples of the three countries were forced to live under corrupt and totalitarian dictatorships, where no ­organisation could exist independently of the state. The nightmare lasted for more than 15 years.

In South Vietnam, unknown hundreds of senior military officers and political leaders were executed and hundreds of thousands of former military officers and civil servants, as well as leaders of independent political parties and religious leaders, were confined to forced labour “re-education” camps without being charged with any crime, for periods of up to 17 years.

Only the emergence of reformist leaders in the 1990s ended the incarceration for most of these ­innocents.

A similar situation occurred in Laos.

In Cambodia hundreds of thousands of innocent people were executed and more than a million more died of disease and starvation under the Khmer Rouge. Later, a conflict among the communist victors led to a Vietnamese invasion at the end of 1978, and a Vietnamese occupation of Cambodia that lasted 10 years.

There were also strategic consequences for the US. Failure led to a “Vietnam syndrome”, which led to great hesitancy about the use of US military power to intervene in conflicts in the developing world, even when US national interests were at stake.

The Soviet Union, which had previously been deferential to US power around the world, began a Third World offensive supporting Marxist revolutionaries, especially in Africa and Latin America. At Moscow’s request, thousands of captured US weapons were secretly shipped from Hanoi to Havana, in order to end up in the hands of Marxist insurgents in El Salvador. This subterfuge made it difficult for the Reagan administration to prove the Soviet backing for the insurgents.

These Cold War conflicts, especially in Central America, further divided the US politically.

Despite the seriousness of the disastrous end to the Vietnam War, analysis of the war’s history is deeply flawed. There are five common assumptions about the Vietnam War that are held as axioms by most academics, journalists and pundits regarding one of the most tragic foreign policy episodes in modern US and Australian history. But these assumptions, which are embedded in prize-winning books and numerous television documentaries, are unsustainable.


1. The US’s wartime enemies, the Vietnamese communists, were primarily nationalists.

Ho Chi Minh, the founder of the Vietnamese Communist Party, was the initial propagator of the notion that he and his comrades were primarily nationalists. His purpose was to appeal to anti-colonial sentiment and allay fears of a connection with the communist world that would incite opposition.

That ploy became a staple of Vietnamese communist propaganda for decades before 1975. Over two generations many French and American journalists, academics and politicians believed this. But, in fact, the wartime Vietnamese communist leaders were primarily revolutionary communists. They wanted to create a political system modelled on the totalitarian dictatorship that existed in the Soviet Union and China.

Had they been primarily nationalists they would have formed genuine coalitions with, and not killed, all independent non-communist political leaders. They would have also tolerated independent religious organisations.

Regarding foreign policy, Ho Chi Minh was for nearly two decades a member of the Communist International (Comintern) headquartered in Moscow and obedient to the foreign policy interests of the Soviet Union. During the war, Ho and his comrades did not emulate, but instead denounced, the independent communism of Tito’s Yugoslavia.

In his final testament, Ho made no reference to the centuries of history of Vietnamese nationalist heroes, but instead stated: “I therefore leave these few lines … in anticipation of the day when I shall go and join Karl Marx, Lenin and other revolutionary elders.”

Some may note that the government that rules Vietnam today has retreated from totalitarian dictatorship and is decidedly nationalist. However, this government is led by a post-revolutionary generation totally different in outlook to the one the US fought.

2. Vietnam was of no strategic significance for the US at the time of its intervention.


It follows from the myth that the Vietnamese communists were primarily nationalists, that their ­victory posed no strategic significance for the US. Yet the history of the communist world suggests otherwise. From the late 1940s, the Western democracies were embroiled in a Cold War confrontation with the communist world, initially led by the Soviet Union.

The Vietnamese communists, genuine internationalists, always believed in supporting communist revolution beyond their own nation. The domino theory, which was subscribed to by every US president from Truman to Nixon, conceived that the fall of non-communist South Vietnam would lead to the fall of all the countries of Southeast Asia to communism. What would have happened had the US not intervened in South Vietnam is a counterfactual that cannot be proven.

But at the time the US decisions to intervene were made, the Vietnamese communists controlled the communist parties in Laos and Cambodia, occupied large parts of Laos, and were sympathetic to the cause of the communists in Thailand.

If South Vietnam had fallen to North Vietnam during the early to mid-1960s, at a minimum its much weaker neighbour Laos would have inevitably followed.

This entailed that the insurgency in Thailand, which China’s Mao Zedong strongly supported, would have had a huge rear base area in adjoining Laos to fertilise its growth.

Sino-Vietnamese support for the Thai communist insurgency would have compelled the US, under the SEATO treaty, to intervene in Thailand in support of a militarily weak ally against a foreign-backed insurgency.

3. The US government frequently lied to the American people about the war.


Most of the examples cited never rose to the status of provable lies by the government. There were many falsehoods for sure. But when did the government ­deliberately lie?

One example often cited during the war pertained to the origin of the war. US State Department white papers asserted that war started in South Vietnam because of aggression from North Vietnam, by Hanoi instigating the uprising through the southern insurgents it controlled. Prominent critics, such as journalist IF Stone and academics George Kahin and John W. Lewis, persistently claimed that the southern insurgency was independent of Hanoi. For years many anti-war movement activists believed that. After the war ended, some 30 years ago, Hanoi admitted that the US government was right.

The most serious alleged lie pertains to the 1964 Gulf of Tonkin resolution. The alleged attacks by North Vietnamese patrol boats on US ships in the Gulf of Tonkin in August 1964 led to president Lyndon Johnson successfully initiating a congressional resolution justifying future US military actions, including air attacks, against North Vietnam.

The facts about the naval battle are complicated. There was undoubtedly a North Vietnamese patrol boat attack on a US ship on August 2, but not on August 4. But the US intelligence on the alleged second attack was faulty.

President Johnson later expressed doubts about the second attack, but it is not at all clear that he was lying at the time he decided to initiate the resolution.

It was more likely a case of rush to judgment.

The prominent liberal journalist-historian Stanley Karnow agrees, writing about the second attack: “It had not been deliberately faked, but Johnson and his staff, desperately seeking a pretext to act vigorously, had seized upon a fuzzy set of circumstances to fulfil a contingency plan.”

The one really serious candidate for a lie was US field commander General William Westmoreland’s manipulation of military intelligence about enemy strength in 1967 — by not counting communist village militias in his estimate of enemy strength — in order to protect himself and president Johnson from embarrassment about lack of progress in the war. Westmoreland’s statements in 1967 included him seeing “light at the end of the tunnel”.


4. The US’s South Vietnamese allies wouldn’t fight effectively against the communists.


This is one of the most popular myths about the war. Most proponents point to the collapse of the South Vietnamese army (ARVN) in March-April 1975, after US troops had left, as proof. But that event does not constitute real ­evidence.

In early 1975, South Vietnam was not only without US troops, it was without US air support and starved of adequate supplies of fuel and ammunition to use its ­weapons. That situation resulted from draconian aid cuts by the US congress. Under such circumstances of deprivation even the US army would have been unable to fight.

A much more valid evaluation of ARVN’s willingness to fight comes from its performance in 1972, when the North Vietnamese launched what was then the biggest military offensive of the war. During that year, with adequate US logistical supplies of fuel and ammunition, plus US air support, especially from B-52s, the South Vietnamese armed forces for the most part stood their ground, often heroically.

By the end of the bloody offensive in September 1972 the South Vietnamese had not lost one provincial capital.

The myth adheres partly because many journalists and academics who were opposed to the US intervention could not believe that ordinary Vietnamese ­con­scripts would be motivated to defend a corrupt regime against its disciplined enemy.

5. US bombing of Cambodia caused the rise of the Khmer Rouge.


One of the most pernicious myths of the Vietnam War is that death of Cambodian civilians in the US bombing of Cambodia caused the rise of the murderous Khmer Rouge. Its proponents, such as Yale professor Ben Kiernan, point to the extent of US bombing, and the fact that the Khmer Rouge used civilian deaths caused by it in their propaganda, as implying that this was the sole or main cause of its ascendancy over the anti-communist Khmer ­Republic.

But even if US bombing did help the Khmer Rouge to recruit, we need to know a lot more before jumping to the conclusion that this enabled it to seize power. For ­example, we do know that US bombing definitely killed a lot of Khmer Rouge. But we don’t know how many died, nor how many might have been recruited by US bombing.

Thus we cannot possibly know that the US bombing provided a net manpower gain for the Khmer Rouge.

Moreover there were three other factors more obviously related to the rise of the Khmer Rouge. The first was the role of the battle-hardened North Vietnamese army in attacking and devastating the inexperienced army of the Khmer Republic in 1970-72. In territory they captured, the Vietnamese communists installed a new Khmer Rouge governing structure.

The second factor was the role of the deposed monarch prince Norodom Sihanouk.

Seeking revenge against those who had usurped his power in March 1970, Sihanouk threw his substantial political authority behind the revolutionaries, and this was exploited by the North ­Vietnamese among a heavily royalist peasantry.

The third factor was the role of terror by the Khmer Rouge. In Cambodian villages they captured, supporting or opposing the Khmer Rouge was not an electoral choice.

Thus US bombing, if relevant, could have at best been only one minor factor in the rise of the Khmer Rouge.

It is regrettable that the Vietnam War has spawned so many myths that still adhere 40 years after the war’s end. Until we get the history of the Vietnam War correct, politicians and the educated public are likely to make bad decisions about the wisdom of intervention, and ­possible methods of involvement, in future military conflicts.

Stephen J. Morris is the author of Why Vietnam Invaded Cambodia (Stanford University Press). He is writing a book about the Vietnam War during the Nixon years. Email vietnamreconsidered@aol.com

Stephen J. Morris
Diên Vỹ chuyển ngữ
Theo Dân Luận
Nguồn: Five myths about the Vietnam war - Stephen J. Morris, The Australian

Người dân Miên Nam cố gắng vượt hàng rào đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn vào ngày 29 tháng 4, 1975 dể được lên trực thăng di tản.  South Vietnamese civilians try to reach evacuation helicopters at the US embassy in Saigon on April 29, 1975. Source: AP

     
Bốn mươi năm sau khi ba quốc gia Đông Dương lọt vào tay của phe cách mạng cộng sản chúng ta vẫn còn xa mới có được một sự đồng thuận về chuyện gì đã thật sự xảy ra và nguyên nhân vì sao.

Xe tăng của Bắc Việt lăn qua cánh cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn, đánh dấu sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Nguồn: AP
Đây không chỉ là vấn đề về việc cần phải nghiên cứu thêm. Nó còn là vấn đề của những người viết sử cần phải từ bỏ định kiến chính trị đầy cảm tính của mình và xem xét những tai biến này một cách khách quan hơn.

Sự sụp đổ của Nam Việt Nam, Lào và Cambodia 40 năm trước đây là một thảm hoạ tinh thần đối với người dân Đông Dương và một thất bại chiến lược của phương Tây.

Trong các nhà nước bán độc tài tham nhũng, người dân của ba nước này bị buộc phải sống dưới bộ máy tham nhũng và độc tài, nơi không có một tổ chức độc lập nào tồn tại được với chính quyền. Cơn ác mộng này kéo dài đến hơn 15 năm.

Ở miền Nam Việt Nam, hàng trăm sĩ quan quân đội cao cấp và những nhà lãnh đạo chính trị bị hành quyết và hàng trăm nghìn cựu sĩ quan quân đội và công chức, cũng như lãnh đạo của các đảng phái chính trị độc lập và các nhà đứng đầu tôn giáo bị giam giữ trong các trại "cải tạo" cưỡng bức lao động mà không bị truy tố về bất cứ tội danh nào, trong thời hạn lên đến 17 năm.

Chỉ sau khi những người lãnh đạo cách tân xuất hiện vào những năm 1990 mới chấm dứt việc giam giữ đối với đa số những con người vô tội này.

Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Lào.

Tại Cambodia, hàng trăm nghìn người dân vô tội bị hành quyết và hơn một triệu người đã chết vì đói khát và bệnh tật dưới chính quyền Khmer Đỏ. Sau đấy một cuộc chiến tranh giữa những người cộng sản chiến thắng đã dẫn đến việc chiếm đóng của Việt Nam tại Cambodia vào cuối năm 1978, kéo dài đến 10 năm sau.

Và Hoa Kỳ cũng gánh chịu những hệ quả chiến lược. Thất bại này đã tạo ra một "hội chứng Việt Nam", dẫn đến sự do dự rất lớn về việc sử dụng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ để can thiệp vào các cuộc xung đột tại các nước đang phát triển, ngay cả khi lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ bị đe doạ.

Liên Xô, vốn trước đấy đã nể nang sức mạnh của Hoa Kỳ trên toàn thế giới, đã bắt đầu một cuộc tấn công tại Thế giới thứ Ba để ủng hộ phong trào cách mạng Mác Xít, đặc biệt là ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Dưới sự yêu cầu của Moscow, hàng nghìn vũ khí tịch thu của Hoa Kỳ đã được bí mật vận chuyển từ Hà Nội sang Havana để cuối cùng đến tay của du kích quân Mác Xít tại El Salvador. Màn trá hình này đã tạo ra khó khăn cho chính quyền Reagan trong việc chứng minh Liên Xô đang hậu thuẫn quân nổi dậy.

Những mâu thuẫn trong Chiến tranh Lạnh này, đặc biệt tại Trung Mỹ, đã làm chia rẽ thêm tình hình chính trị của Hoa Kỳ.

Dù kết thúc đầy thảm hoạ của cuộc chiến tranh Việt Nam rất nghiêm trọng, việc phân tích lịch sử cuộc chiến vẫn bị sai sót trầm trọng. Có năm giả định phổ biến về Chiến tranh Việt Nam như là tiền đề của đa số các học giả, nhà báo và bình luận gia, họ xem nó như là một trong những giai đoạn bi thảm nhất về chính sách đối ngoại trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ và Úc. Nhưng những giả định này, vốn được lồng vào những cuốn sách đoạt giải thưởng và vô số các phim tài liệu truyền hình, thì đều thiếu chứng cứ.

1. Cộng sản Việt Nam, kẻ thù thời chiến của Hoa Kỳ, thật ra là những người theo chủ nghĩa dân tộc

Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, là người đầu tiên khởi xướng ra quan điểm rằng ông và các đồng chí của mình thực chất là những nhà dân tộc chủ nghĩa. Mục đích của ông là để lôi cuốn tinh thần chống thực dân và xoa dịu sự e sợ rằng việc dính líu đến phe cộng sản sẽ tạo ra sự chống đối.

Mưu đồ này đã trở thành yếu tố chủ lực của bộ máy truyên truyền của cộng sản Việt Nam trong hàng chục năm trước 1975. Qua hơn hai thế hệ, nhiều nhà báo, trí thức và chính trị gia Pháp và Mỹ đều tin vào nó. Nhưng, thực tế là giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam thời chiến chủ yếu là những người cách mạng cộng sản. Họ muốn tạo ra một hệ thống chính trị theo khuôn mẫu của chính thể độc tài có sẵn tại Liên Xô và Trung Quốc.

Nếu họ thực sự là những nhà dân tộc, họ đã xây dựng nên một liên minh chính đáng bao gồm tất cả các lãnh đạo của những phe phái chính trị độc lập phi cộng sản chứ không giết hại những người ấy. Họ cũng sẽ thừa nhận các tổ chức tôn giáo độc lập khác.

Về chính sách đối ngoại, trong suốt hai thập niên Hồ Chí Minh là thành viên của Quốc tế Cộng sản (Comintern) có bản doanh tại Moscow và đã trung thành với những lợi ích đối ngoại của Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh, Hồ và các đồng chí của mình đã không noi gương, mà ngược lại lên án chủ trương cộng sản độc lập của Tito ở Nam Tư.

Trong bản di chúc của mình, Hồ đã không nhắc đến những anh hùng dân tộc Việt Nam trong nhiều thế kỷ của lịch sử, thay vì thế ông nói rằng: "Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác."

Một số người lại cho rằng chính quyền đang cai trị Việt Nam hôm nay đã từ bỏ chế độ độc tài và thật sự là một thể chế theo chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, chính quyền này đang được lãnh đạo bởi một thế hệ hậu cách mạng với quan điểm hoàn toàn khác với thế hệ mà Hoa Kỳ từng giao tranh.

2. Việt Nam không có tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ trong thời điểm Hoa Kỳ can thiệp.

Điều nay theo sau ảo tưởng rằng những người Việt cộng sản chủ yếu là những người theo chủ nghĩa dân tộc, rằng chiến thắng của họ không mang tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ. Nhưng lịch sử của thế giới cộng sản đã chứng tỏ ngược lại. Từ những năm cuối 1940, các thể chế dân chủ phương Tây đã bị dính chặt vào việc đối đầu với cuộc Chiến tranh Lạnh với thế giới cộng sản, được khởi sự bởi Liên Xô.

Những người cộng sản Việt Nam, thật sự theo chủ nghĩa quốc tế, luôn tin tưởng việc ủng hộ phong trào cách mạng cộng sản bên ngoài đất nước mình. Giả thuyết hiệu ứng domino được mọi tổng thống Hoa Kỳ từ Truman đến Nixon sử dụng, cho rằng nếu miền Nam Việt Nam phi cộng sản sụp đổ sẽ dẫn đến việc tất cả các quốc gia Đông nam Á bị rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản. Điều gì sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ không can thiệp vào Nam Việt Nam một phản biện không thể chứng minh được.

Nhưng vào thời điểm Hoa Kỳ quyết định can thiệp, cộng sản Việt Nam đã kiểm soát các đảng cộng sản ở Lào và Cambodia, chiếm lĩnh những khu vực lớn trên đất Lào và đang ủng hộ cộng sản Thái Lan.

Nếu Nam Việt Nam rơi vào tay Bắc Việt Nam trong giai đoạn đầu đến giữa 1960, ít nhất là nước láng giềng Lào yếu hơn chắc chắn sẽ theo sau.

Điều này dẫn đến cuộc kháng chiến ở Thái Lan, vốn được Mao Trạch Đông của Trung Quốc ủng hộ mạnh mẽ, sẽ có một khu vực hậu cứ lớn sát bên Lào để lớn mạnh hơn.

Sự hậu thuẫn Trung-Việt đối với cuộc nổi dậy của cộng sản Thái sẽ buộc Mỹ, dưới hiệp ước SEATO, cũng phải can thiệp vào Thái Lan để hỗ trợ một đồng minh yếu kém về quân sự chống lại một cuộc nổi dậy do nước ngoài hậu thuẫn.

3. Chính phủ Hoa Kỳ thường xuyên lừa dối nhân dân Mỹ về cuộc chiến

Hầu hết các ví dụ được đưa ra chưa bao giờ chứng minh được rằng chính phủ đã nói dối. Chắc chắn đã có nhiều sai sót. Nhưng khi nào chính quyền cố tình nói dối?

Một ví dụ thường được đưa ra trong chiến tranh liên quan với nguồn gốc của cuộc chiến. Sách trắng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khẳng định rằng chiến tranh bắt đầu tại Nam Việt Nam vì sự xâm lấn của Bắc Việt Nam, qua việc Hà Nội xúi giục việc nổi dậy trong các khu vực kháng chiến miền nam mà họ kiểm soát. Những nhà phê bình nổi tiếng như nhà báo I.F. Stone và các học giả George Kahin và John W. Lewis, liên tục cho rằng cuộc nổi dậy ở miền nam không dính líu đến Hà Nội. Trong nhiều năm nhiều thành viên của phong trào phản chiến đã tin vào điều này. Khoảng 30 năm sau chiến tranh kết thúc, Hà Nội thừa nhận rằng chính phủ Hoa Kỳ đã nói đúng.

Sự kiện bị tố cáo là điều giả dối nghiêm trọng nhất liên quan đến quyết nghị Vịnh Bắc Bộ 1964. Cuộc tấn công được cho là của các tuần duyên Bắc Việt vào các tàu chiến Hoa Kỳ ở Vịnh Bắc Bộ vào tháng Tám 1964 dẫn đến việc tổng thống Lyndon Johnson đề xuất thành công một quyết nghị của quốc hội biện minh cho các hành động quân sự của Hoa Kỳ trong tương lai, bao gồm việc tấn công bằng không quân chống lại Bắc Việt Nam.

Sự thật về cuộc hải chiến này thì rất phức tạp. Rõ ràng là một tàu tuần duyên Bắc Việt đã tấn công một tàu chiến của Hoa Kỳ trong ngày 2 tháng Tám, không phải là ngày 4 tháng Tám. Nhưng tin tình báo của Hoa Kỳ về cuộc tấn công thứ hai là sai lạc.

Sau này Tổng thống Johnson đã nghi ngờ về cuộc tấn công thứ hai, nhưng hoàn toàn không rõ là ông đã nói dối vào thời điểm mà ông quyết định đề xuất quyết nghị cho quốc hội hay không.

Đấy là một trường hợp phán quyết vội vã thì đúng hơn.

Nhà báo - sử gia cấp tiến nổi tiếng Stanley Karnow cũng đồng ý về điều này, ông viết về cuộc tấn công thứ hai: "Nó không được cố ý bịa đặt, nhưng Johnson và nhân viên của mình đang tuyệt vọng tìm kiếm một nguyên do để ra tay mạnh mẽ, đã chộp lấy nó trong một hoàn cảnh mập mờ để hoàn thành một kế hoạch bất ngờ."

Sự dối trá được xem là nghiêm trọng nhất là việc tư lệnh chiến trường Hoa Kỳ là Tướng William Westmoreland sửa đổi tin tức tình báo quân đội về sứ mạnh của đối phương để bảo vệ bản thân và tổng thống Johnson khỏi xấu hổ về sự thiếu tiến độ của cuộc chiến. Báo cáo của Westmoreland năm 1967 bao gồm việc ông thấy được "ánh sáng cuối đường hầm".

4. Đồng minh Nam Việt Nam của Hoa Kỳ chiến đấu chống cộng sản không hiệu quả

Đây là một trong những ảo tưởng phổ biến nhất trong cuộc chiến. Đa số những người phản chiến chỉ ra sự sụp đổ của quân đội Nam Việt Nam vào tháng Ba - Tư 1975, sau khi Hoa Kỳ rút quân như là một bằng chứng. Nhưng đấy không phải là bằng chứng xác thực.

Đầu năm 1975, Nam Việt Nam không chỉ không còn lính Mỹ mà còn không có cả hỗ trợ không quân và đang thiếu thốn nhiên liệu, đạn dược dùng cho vũ khí của mình. Tình hình này là kết quả của việc quốc hội Hoa Kỳ đã tàn nhẫn cắt giảm viện trợ. Trong tình huống thiếu thốn mọi mặt như thế, ngay cả quân đội Hoa Kỳ cũng không thể chiến đấu được.

Một đánh giá quan trọng hơn về tính chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam được thể hiện qua tính hiệu quả của nó trong năm 1972, khi Bắc Việt Nam phát động sự kiện mà lúc ấy được xem là cuộc tấn công quân sự lớn nhất trong cuộc chiến. Trong năm đó, với nguồn nhiên liệu và đạn dược hậu cần đầy đủ, cộng thêm hỗ trợ của không quân Hoa Kỳ, đặc biệt là từ những chiếc B-52, lực lượng quân đội Nam Việt Nam hầu như đã giữ vững trận tuyến, thường là rất anh dũng.

Đến cuối chiến dịch tấn công đẫm máu vào tháng Chín 1972, Nam Việt Nam đã không mất một tỉnh lỵ nào.

Ảo tưởng này tồn tại một phần vì nhiều nhà báo và học giả chuyên phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ không thể tin rằng những người lính Việt Nam bình thường bị tổng động viên sẽ có tinh thần bảo vệ một chính quyền tham nhũng chống lại một kẻ thù có kỷ luật.

5. Việc Hoa Kỳ ném bom ở Cambodia dẫn đến sự phát triển của Khmer Đỏ

Một trong những ảo tưởng tai hại nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam là những cái chết của thường dân Cambodia trong việc Hoa Kỳ ném bom nước này đã là nguyên nhân phát triển của những tên sát nhân Khmer Đỏ. Những người ủng hộ nó như giáo sư đại học Yale Ben Kiernan chỉ ra việc tăng cường ném bom của Hoa Kỳ cũng như thực tế rằng Khmer Đỏ sử dụng những cái chết của thường dân qua việc ném bom để tuyên truyền như ngụ ý rằng đây là nguyên nhân duy nhất hoặc chủ yếu dẫn đến sự đi lên của Khmer Đỏ chống lại chính quyền Cộng hoà Khmer chống cộng.

Nhưng ngay cả nếu việc ném bom của Hoa Kỳ đã giúp Khmer Đỏ tuyển được quân, chúng ta cần hiểu biết nhiều hơn nữa trước khi kết luận ngay rằng việc này đã giúp họ giành được chính quyền. Ví dụ như chúng ta biết rằng việc Hoa Kỳ ném bom chắn chắn đã giết được rất nhiều quân Khmer Đỏ. Nhưng chúng ta không biết được bao nhiêu người chết, hoặc bao nhiêu đã gia nhập Khmer Đỏ vì việc ném bom của Hoa Kỳ.

Vì thế chúng ta không thể nào biết được việc Hoa Kỳ ném bom là nguyên nhân dẫn đến việc Khmer Đỏ được tăng thêm quân số.

Hơn nữa, còn có ba yếu tố khác có liên quan rõ rệt đến sự đi lên của Khmer Đỏ. Đầu tiên là vai trò của quân đội thiện chiến Bắc Việt tronng việc tấn công và tiêu diệt quân đội thiếu kinh nghiệm của Cộng hoà Khmer trong những năm 1970-72. Trong những lãnh thổ chiếm được, cộng sản Việt Nam đã dựng nên cơ cấu chính quyền của Khmer Đỏ.

Yếu tố thứ hai là vai trò của hoàng tử bị truất phế Norodom Sihanouk.

Khi tìm cách trả thù những người đã lật đổ ông vào tháng Ba 1970, Sihanouk đã đem quyền lực chính trị lớn lao của mình để ủng hộ những người cách mạng, và điều này đã bị Bắc Việt lợi dụng để vận động một tầng lớp lớn của giới nông dân bảo hoàng.

Yếu tố thức ba là vai trò khủng bố của Khmer Đỏ. Tại các làng mạc Cambodia bị họ chiếm đóng, việc ủng hộ hay chống đối Khmer Đỏ không phải là một lựa chọn dân chủ.

Vì thế việc ném bom của Hoa Kỳ, nếu có liên quan, cũng cũng lắm là một yếu tố nhỏ trong việc đi lên của Khmer Đỏ.

Thật đáng tiếc rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam đã sinh ra quá nhiều ảo tưởng mà 40 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt vẫn còn tồn tại. Chỉ trừ phi chúng ta nhận định lịch sử Chiến tranh Việt Nam một cách đúng đắn, các chính trị gia và giới công chúng có hiểu biết chắc chắn sẽ có thêm những quyết định sai lầm về sự khôn ngoan của việc can thiệp, và có thể là phương pháp tham chiến trong những xung đột quân sự tương lai.
     
Forty years after the collapse of the three states of Indochina to communist revolutionaries we are still far from a consensus on what really happened and why.

A North Vietnamese tank rolls through the gates of the Presidential Palace in Saigon, signifying the fall of South Vietnam. Source: AP
It is not just a question of more research needing to be done. It is also a matter of those who write history needing to abandon their emotional political prejudices and examine the calamitous events with greater objectivity.

The fall of South Vietnam, Laos and Cambodia 40 years ago was a moral disaster for the people of Indochina and a strategic setback for the West.

In place of corrupt and semi-authoritarian regimes, the peoples of the three countries were forced to live under corrupt and totalitarian dictatorships, where no ­organisation could exist independently of the state. The nightmare lasted for more than 15 years.

In South Vietnam, unknown hundreds of senior military officers and political leaders were executed and hundreds of thousands of former military officers and civil servants, as well as leaders of independent political parties and religious leaders, were confined to forced labour “re-education” camps without being charged with any crime, for periods of up to 17 years.

Only the emergence of reformist leaders in the 1990s ended the incarceration for most of these ­innocents.

A similar situation occurred in Laos.

In Cambodia hundreds of thousands of innocent people were executed and more than a million more died of disease and starvation under the Khmer Rouge. Later, a conflict among the communist victors led to a Vietnamese invasion at the end of 1978, and a Vietnamese occupation of Cambodia that lasted 10 years.

There were also strategic consequences for the US. Failure led to a “Vietnam syndrome”, which led to great hesitancy about the use of US military power to intervene in conflicts in the developing world, even when US national interests were at stake.

The Soviet Union, which had previously been deferential to US power around the world, began a Third World offensive supporting Marxist revolutionaries, especially in Africa and Latin America. At Moscow’s request, thousands of captured US weapons were secretly shipped from Hanoi to Havana, in order to end up in the hands of Marxist insurgents in El Salvador. This subterfuge made it difficult for the Reagan administration to prove the Soviet backing for the insurgents.

These Cold War conflicts, especially in Central America, further divided the US politically.

Despite the seriousness of the disastrous end to the Vietnam War, analysis of the war’s history is deeply flawed. There are five common assumptions about the Vietnam War that are held as axioms by most academics, journalists and pundits regarding one of the most tragic foreign policy episodes in modern US and Australian history. But these assumptions, which are embedded in prize-winning books and numerous television documentaries, are unsustainable.


1. The US’s wartime enemies, the Vietnamese communists, were primarily nationalists.

Ho Chi Minh, the founder of the Vietnamese Communist Party, was the initial propagator of the notion that he and his comrades were primarily nationalists. His purpose was to appeal to anti-colonial sentiment and allay fears of a connection with the communist world that would incite opposition.

That ploy became a staple of Vietnamese communist propaganda for decades before 1975. Over two generations many French and American journalists, academics and politicians believed this. But, in fact, the wartime Vietnamese communist leaders were primarily revolutionary communists. They wanted to create a political system modelled on the totalitarian dictatorship that existed in the Soviet Union and China.

Had they been primarily nationalists they would have formed genuine coalitions with, and not killed, all independent non-communist political leaders. They would have also tolerated independent religious organisations.

Regarding foreign policy, Ho Chi Minh was for nearly two decades a member of the Communist International (Comintern) headquartered in Moscow and obedient to the foreign policy interests of the Soviet Union. During the war, Ho and his comrades did not emulate, but instead denounced, the independent communism of Tito’s Yugoslavia.

In his final testament, Ho made no reference to the centuries of history of Vietnamese nationalist heroes, but instead stated: “I therefore leave these few lines … in anticipation of the day when I shall go and join Karl Marx, Lenin and other revolutionary elders.”

Some may note that the government that rules Vietnam today has retreated from totalitarian dictatorship and is decidedly nationalist. However, this government is led by a post-revolutionary generation totally different in outlook to the one the US fought.

2. Vietnam was of no strategic significance for the US at the time of its intervention.


It follows from the myth that the Vietnamese communists were primarily nationalists, that their ­victory posed no strategic significance for the US. Yet the history of the communist world suggests otherwise. From the late 1940s, the Western democracies were embroiled in a Cold War confrontation with the communist world, initially led by the Soviet Union.

The Vietnamese communists, genuine internationalists, always believed in supporting communist revolution beyond their own nation. The domino theory, which was subscribed to by every US president from Truman to Nixon, conceived that the fall of non-communist South Vietnam would lead to the fall of all the countries of Southeast Asia to communism. What would have happened had the US not intervened in South Vietnam is a counterfactual that cannot be proven.

But at the time the US decisions to intervene were made, the Vietnamese communists controlled the communist parties in Laos and Cambodia, occupied large parts of Laos, and were sympathetic to the cause of the communists in Thailand.

If South Vietnam had fallen to North Vietnam during the early to mid-1960s, at a minimum its much weaker neighbour Laos would have inevitably followed.

This entailed that the insurgency in Thailand, which China’s Mao Zedong strongly supported, would have had a huge rear base area in adjoining Laos to fertilise its growth.

Sino-Vietnamese support for the Thai communist insurgency would have compelled the US, under the SEATO treaty, to intervene in Thailand in support of a militarily weak ally against a foreign-backed insurgency.

3. The US government frequently lied to the American people about the war.


Most of the examples cited never rose to the status of provable lies by the government. There were many falsehoods for sure. But when did the government ­deliberately lie?

One example often cited during the war pertained to the origin of the war. US State Department white papers asserted that war started in South Vietnam because of aggression from North Vietnam, by Hanoi instigating the uprising through the southern insurgents it controlled. Prominent critics, such as journalist IF Stone and academics George Kahin and John W. Lewis, persistently claimed that the southern insurgency was independent of Hanoi. For years many anti-war movement activists believed that. After the war ended, some 30 years ago, Hanoi admitted that the US government was right.

The most serious alleged lie pertains to the 1964 Gulf of Tonkin resolution. The alleged attacks by North Vietnamese patrol boats on US ships in the Gulf of Tonkin in August 1964 led to president Lyndon Johnson successfully initiating a congressional resolution justifying future US military actions, including air attacks, against North Vietnam.

The facts about the naval battle are complicated. There was undoubtedly a North Vietnamese patrol boat attack on a US ship on August 2, but not on August 4. But the US intelligence on the alleged second attack was faulty.

President Johnson later expressed doubts about the second attack, but it is not at all clear that he was lying at the time he decided to initiate the resolution.

It was more likely a case of rush to judgment.

The prominent liberal journalist-historian Stanley Karnow agrees, writing about the second attack: “It had not been deliberately faked, but Johnson and his staff, desperately seeking a pretext to act vigorously, had seized upon a fuzzy set of circumstances to fulfil a contingency plan.”

The one really serious candidate for a lie was US field commander General William Westmoreland’s manipulation of military intelligence about enemy strength in 1967 — by not counting communist village militias in his estimate of enemy strength — in order to protect himself and president Johnson from embarrassment about lack of progress in the war. Westmoreland’s statements in 1967 included him seeing “light at the end of the tunnel”.


4. The US’s South Vietnamese allies wouldn’t fight effectively against the communists.


This is one of the most popular myths about the war. Most proponents point to the collapse of the South Vietnamese army (ARVN) in March-April 1975, after US troops had left, as proof. But that event does not constitute real ­evidence.

In early 1975, South Vietnam was not only without US troops, it was without US air support and starved of adequate supplies of fuel and ammunition to use its ­weapons. That situation resulted from draconian aid cuts by the US congress. Under such circumstances of deprivation even the US army would have been unable to fight.

A much more valid evaluation of ARVN’s willingness to fight comes from its performance in 1972, when the North Vietnamese launched what was then the biggest military offensive of the war. During that year, with adequate US logistical supplies of fuel and ammunition, plus US air support, especially from B-52s, the South Vietnamese armed forces for the most part stood their ground, often heroically.

By the end of the bloody offensive in September 1972 the South Vietnamese had not lost one provincial capital.

The myth adheres partly because many journalists and academics who were opposed to the US intervention could not believe that ordinary Vietnamese ­con­scripts would be motivated to defend a corrupt regime against its disciplined enemy.

5. US bombing of Cambodia caused the rise of the Khmer Rouge.


One of the most pernicious myths of the Vietnam War is that death of Cambodian civilians in the US bombing of Cambodia caused the rise of the murderous Khmer Rouge. Its proponents, such as Yale professor Ben Kiernan, point to the extent of US bombing, and the fact that the Khmer Rouge used civilian deaths caused by it in their propaganda, as implying that this was the sole or main cause of its ascendancy over the anti-communist Khmer ­Republic.

But even if US bombing did help the Khmer Rouge to recruit, we need to know a lot more before jumping to the conclusion that this enabled it to seize power. For ­example, we do know that US bombing definitely killed a lot of Khmer Rouge. But we don’t know how many died, nor how many might have been recruited by US bombing.

Thus we cannot possibly know that the US bombing provided a net manpower gain for the Khmer Rouge.

Moreover there were three other factors more obviously related to the rise of the Khmer Rouge. The first was the role of the battle-hardened North Vietnamese army in attacking and devastating the inexperienced army of the Khmer Republic in 1970-72. In territory they captured, the Vietnamese communists installed a new Khmer Rouge governing structure.

The second factor was the role of the deposed monarch prince Norodom Sihanouk.

Seeking revenge against those who had usurped his power in March 1970, Sihanouk threw his substantial political authority behind the revolutionaries, and this was exploited by the North ­Vietnamese among a heavily royalist peasantry.

The third factor was the role of terror by the Khmer Rouge. In Cambodian villages they captured, supporting or opposing the Khmer Rouge was not an electoral choice.

Thus US bombing, if relevant, could have at best been only one minor factor in the rise of the Khmer Rouge.

It is regrettable that the Vietnam War has spawned so many myths that still adhere 40 years after the war’s end. Until we get the history of the Vietnam War correct, politicians and the educated public are likely to make bad decisions about the wisdom of intervention, and ­possible methods of involvement, in future military conflicts.

Stephen J. Morris is the author of Why Vietnam Invaded Cambodia (Stanford University Press). He is writing a book about the Vietnam War during the Nixon years. Email vietnamreconsidered@aol.com

Stephen J. Morris
Diên Vỹ chuyển ngữ
Theo Dân Luận
Nguồn: Five myths about the Vietnam war - Stephen J. Morris, The Australian

Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về "Chứng từ của tội lỗi" (tôi không dùng chữ "tội ác"), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc.

Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là:

Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là "red herring", hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ "red herring" có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm.

Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích.

Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề "dân oan", v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu.

Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.

Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói "nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố". Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là "conventional war", mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó.

Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là "dốt"). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những "lê máy chém khắp nơi", v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được.

Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế", và hàm ý là "tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được". Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra).

Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân.

Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét "phản động". Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến "phía bên kia cũng ác ôn". Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Giáo Sư Nguyễn Tuấn
Theo FB Nguyễn Tuấn

Cả tuần qua, cần-lao mạng ném đá không thương tiếc mấy bạn ở Hội chữ thập đỏ An-nam "chạy trốn" khỏi Nepal khi xảy ra động đất. Trong khi chương trình của các bạn í là sang Nepal để học hỏi kinh nghiệm ứng cứu động đất.

Việc đám bạn này về nước bi-bô những điều xuẩn ngốc để thanh minh thanh nga lý do tại sao các bạn í lại "chạy trốn" cũng bị cần-lao ném đá kịch liệt. Dĩ nhiên, các bạn í ngụy biện và chống chế như đúng bản chất "không dám nhìn thẳng vào sự thật" của "một bộ phận không nhỏ" những người có trách nhiệm xứ An-nam nói chung.

Để chứng minh đã đi khảo sát hiện trường, các bạn í trưng ra cái ảnh chụp một ngôi nhà đổ nát do động đất. Khốn nổi lại là kiểu ảnh "tự sướng" của một bạn trong đoàn. Và dĩ nhiên, ảnh này bị ném đá kịch liệt. Thậm chí còn được đưa lên một trang chuyên ảnh ấn tượng của nước ngoài.

Cá nhân tôi cho rằng, cần-lao mạng xã hội đã hơi quá khi ném đá các bạn í. Nếu các bạn í cố tình gây ra sự việc thì ném đá đã đành, đằng này các bạn í như con rô-bốt, chỉ biết nghe theo chỉ đạo, mà là loại rô-bốt rất "quý trọng" bản thân nữa nhé.

Bởi nhẽ, các bạn này không phải ngồi ở các vị trí đó là do năng lực chuyên môn và sự cống hiến đối với xã hội (đặc biệt là đối với các tổ chức nhân đạo). Mà các bạn í được ngồi đó là do cơ cấu và bổ nhiệm của đảng, zời ạ!

Đấy, đơn cử như cái bạn có ảnh "tự sướng", bạn í đương làm phó bí thư tỉnh đoàn được "tổ chức điều động công tác" sang làm chủ tịch hội chữ thập đỏ tỉnh. Thế nên bạn này chém zó về chủ trương, đường lối hay bi-bô hô hào quyết tâm chính trị với đám thuộc cấp thì khá lưu loát. Còn kỹ năng của một nhân viên tình nguyện quốc tế, thậm chí là điều lệ của Redcross thì chắc bạn này chưa biết/có tý gì. Làm phong trào đoàn điếc thì chỉ nhảy nhót như lũ khỉ mua vui trong các sự kiện chứ có làm được tích sự gì cho xã hội đâu, khổ!

Ngày trước, tiêu chí quy hoạch cán bộ quản lý và lãnh đạo là phải vừa chuyên vừa hồng. Bi giờ, do đám dở ông dở thằng vừa chuyên vừa hồng bị cần-lao chửi nhiều quá, họ chuyển hướng chủ đạo về hồng, chẳng cần chuyên. Cơ sở lý luận về việc này là: thằng lãnh đạo chỉ cần giỏi lãnh đạo, còn chuyên môn đã có thằng giỏi chuyên môn lo. Mà giỏi lãnh đạo ở xứ này là phải trung thành tuyệt đối, thấm nhuần tư tưởng và thuộc lòng đường lối, chính sách. Khổ thế không biết!

Mấy cái hội từ thiện, đáng ra là của một nhóm người lập ra và vận hành theo điều lệ chung của hội quốc tế. Nhưng không, ở xứ An-nam, các hội này nằm trong cái gọi là các tổ chức chính trị-xã hội. Có nghĩa là một bộ phận trọng cơ cấu quản lý của đảng và nhà nước. Thế nên cái bạn tự sướng kia mới được "tổ chức" bổ nhiệm. Oai lắm đấy, chả đùa.

Đã là do được đảng cơ cấu và bổ nhiệm, đặc biệt là các tổ chức lìu tìu vô thưởng vô phạt, được hình thành và hoạt động chủ yếu là để hô hào quyết tâm chính trị thì những việc như "chạy trốn" hay "tự sướng" là điều dễ hiểu. Bởi, các bạn í chỉ là một đám nô tài ăn theo nói leo mà thôi.

Thế nên, hãy dừng lại, đừng ném đá các bạn í nữa.

Tội nghiệp cho các bạn í.

Cơ khổ!!!

Nguồn: FB Bau X Trinh

Lãnh đạo Đảng và nhà nước Việt Nam 'kỷ niệm' 40 năm 'Đại thắng mùa Xuân', 'Giải phóng hoàn toàn Miền Nam' ở TP. Hồ Chí Minh hôm 30/4/2015.

Viết và phát biểu nhân dịp Việt Nam kỷ niệm 40 năm ‘Ngày giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước’ cả Tổng Bí thư Đảng Cộng sản và Thủ tướng Việt Nam ca ngợi ‘sự lãnh đạo đúng đắn’, ‘tài tình’, ‘sáng suốt’ của Đảng Cộng sản trong ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’.

‘Dưới sự lãnh đạo’ đó của họ, ‘quân và dân cả nước’ đã ‘đánh cho Mỹ cút’, ‘đánh cho Ngụy nhào’, giành ‘Đại thắng mùa Xuân năm 1975’, ‘mở ra một kỷ nguyên mới’ cho Việt Nam.

‘Kỷ nguyên mới’ theo ông Nguyễn Phú Trọng – trong một bài viết được báo chí chính thống đồng loạt đăng hôm 23/4 – là ‘kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội’.

Còn diễn văn của ông Nguyễn Tấn Dũng ngày 30/4 còn thêm ‘kỷ nguyên mới’ ấy là kỷ nguyên … cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’.

Chắc có không ít người đặt câu hỏi khi đọc, nghe bài viết và diễn văn của hai lãnh đạo cao cấp này của Việt Nam.

Một trong những câu hỏi đó là có phải mọi đường lối của Đảng Cộng sản – trước kia là Đảng Lao Động – trong ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’ là ‘đúng đắn’, ‘tài tình’, ‘sáng suốt’ hay ‘sáng tạo’ và ‘kỷ nguyên mới’ mà Việt Nam bước vào sau năm 1975 có thực sự tốt đẹp như họ mô tả?

‘Đúng đắn’ thời 'chống Mỹ’?

   Chính ông Lê Duẩn và các thành phần cứng rắn, bảo thủ trong Đảng Cộng sản đã phát động chiến tranh vũ trang để ‘giải phóng miền Nam’ và đây cũng là một lý do dẫn đến việc Mỹ quyết định đưa quân vào Miền Nam

» Tiến sỹ sử học Nguyễn Liên Hằng
Sinh thời, khi nói về biến cố 30/4, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nói đó là ‘một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn’.

Hàng triệu người buồn vì nhiều lý do khác nhau.

Buồn vì cuộc chiến này đã cướp đi mạng sống của mấy triệu người Việt, trong đó đa số là dân thường.

Buồn vì ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’ ấy cũng là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn – người Việt hai miền Nam Bắc, hay thậm chí anh em trong một gia đình, tàn sát, giết hại lẫn nhau.

Buồn vì đất nước rơi vào một cuộc chiến thảm khốc như thế phần lớn vì do xung đột ý thức hệ giữa hai phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Dù không chấp nhận chuyện Mỹ can thiệp quân sự vào nước mình dù với bất cứ lý do gì, chắc không ít người tự hỏi tại sao Việt Nam lại phải trải qua cuộc chiến đó chỉ vì sự đối đầu về ý thức hệ giữa các cường quốc Cộng sản và không Cộng sản?

Cũng là thuộc địa (ngoại trừ Thái Lan), tất cả các quốc gia phi cộng sản ở Đông Nam Á đều giành được độc lập, thống nhất đất nước mà không một nước nào phải hứng chịu một cuộc chiến dài, đẫm máu như Việt Nam.

Ông Nguyễn Tấn Dũng sử dụng những từ ngữ 'rất cứng rắn, nặng nề và đầy thù hận' khi nói về cuộc chiến Việt Nam trong diễn văn hôm 30/4/2015, theo tác giả.

Những nghiên cứu mới về ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’ do những người Cộng sản lãnh đạo cũng làm nhiều người đặt nghi vấn về sự ‘đúng đắn, tài tình, sáng tạo’ của họ trong cuộc chiến này.

Chẳng hạn, cuốn ‘Hanoi's War’, tạm dịch là ‘Cuộc chiến của Hà Nội’ – xuất bản năm 2012 của Tiến sỹ Nguyễn Liên Hằng, một người Mỹ gốc Việt và hiện là phó giáo sư, khoa Lịch sử tại Đại học Kentucky – tiết lộ rằng chính ông Lê Duẩn và các thành phần cứng rắn, bảo thủ trong Đảng Cộng sản đã phát động chiến tranh vũ trang để ‘giải phóng miền Nam’ và đây cũng là một lý do dẫn đến việc Mỹ quyết định đưa quân vào Miền Nam.

Tác giả còn chỉ ra rằng để theo đuổi và đạt được mục đích của mình, Lê Duẩn và phe cánh của ông đã thiết lập một ‘nhà nước công an trị’ và tìm mọi cách, thủ đoạn để cô lập, loại bỏ những ai chống đối đường lối của họ.

Theo bà, vì chủ trương ‘thống nhất miền Nam bằng bạo lực’ dù cuối cùng họ thắng, người dân Việt Nam – trong đó có rất nhiều lính miền Bắc – phải trả một cái giá quá đắt cho chiến thắng ấy.

Vì vậy, bà cho rằng có thể Việt Nam đã không phải đối diện một cuộc chiến như thế – hay ít ra chiến tranh có thể kết thúc sớm hơn, ít đổ máu hơn, ít mất mát hơn – nếu những người có đường lối ôn hòa nắm quyền ở Hà Nội.

Gần đây, một số người khác cũng cho rằng, nếu thay vì chủ trương bạo lực cách mạng để thống nhất đất nước, giới lãnh đạo Việt Nam biết dùng các biện pháp hòa bình, như đàm phán, Việt Nam có thể thống nhất mà không phải trải qua một cuộc chiến đầy đau thương như vậy.

‘Kỷ nguyên mới’ tốt đẹp?

Còn ‘kỷ nguyên mới’ mà Việt Nam bước vào sau ‘Đại thắng Mùa Xuân năm 1975’ có thực sự tốt đẹp?

   Ai cũng biết – thậm chí những người Cộng sản cũng hiểu rõ, dù có thể họ không dám công khai thừa nhận – mô hình kinh tế ‘xã hội chủ nghĩa’ mà họ tiến hành sau 1975 đã hoàn toàn thất bại

» TS. Đoàn Xuân Lộc
Nhiều dẫn chứng, số liệu cho thấy trong 40 năm qua, đặc biệt là trong thập niên đầu sau ‘giải phóng miền Nam’ khi ‘cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa’, dân không giàu, nước chẳng mạnh và xã hội cũng không ‘dân chủ, công bằng, văn minh’ như lãnh đạo Việt Nam nói.

Chẳng hạn, sau năm 1975, thay vì được đối xử ‘văn minh’, hàng chục ngàn sỹ quan, binh lính, quan chức, nhân viên của chế độ cũ bị đưa vào các trại tù, trại cải tạo.

Những năm sau khi Việt Nam bước vào ‘kỷ nguyên mới’ cũng là lúc thế giới chứng kiến làn sóng người Việt tị nạn. Ước tính từ năm 1975 đến những năm đầu thập niên 1990, có đến gần hai triệu người Việt bỏ nước ra đi.

Họ liều chết vượt biển tìm tự do, no ấm ở một nước xa xôi nào đó vì họ không có được những điều đó ngay chính trên đất nước của mình. Nếu được sống trong một quốc gia mà ở đó ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’, ai lại muốn bỏ Tổ quốc ra đi như vậy?

Ai cũng biết – thậm chí những người Cộng sản cũng hiểu rõ, dù có thể họ không dám công khai thừa nhận – mô hình kinh tế ‘xã hội chủ nghĩa’ mà họ tiến hành sau 1975 đã hoàn toàn thất bại. Chính những thất bại, sai lầm đó đã buộc họ phải cải cách kinh tế từ năm 1986.

Phần vì hà khắc về chính trị, sai lầm về kinh tế và phần vì sự can thiệp quân sự của Việt Nam vào Campuchia năm 1978, hình ảnh, vị thế quốc tế của Việt Nam trong thập niên đầu sau ‘Đại thắng mùa Xuân năm 1975’ cũng chẳng tốt đẹp, vẻ vang gì.

Mỹ và các nước phương Tây khác cấm vận Việt Nam. Nhiều quốc gia, trong đó có các nước ASEAN, cũng tìm cách cô lập Hà Nội.

Ngay cả Trung Quốc, một đồng minh thân cận của Hà Nội trong ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ’ cũng tiến hành một cuộc chiến biên giới tuy ngắn nhưng rất khốc liệt với Việt Nam vào năm 1979 – một cuộc chiến mà hiện giờ chính quyền Việt Nam đang cố quên. Chín năm sau, cũng chính người ‘đồng chí’ này đã đánh chiếm một số đảo, bãi đá trong đó có Gạc Ma, ở quần đảo Trường sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Cuộc chiến Việt Nam sau 40 năm dường như vẫn còn nhiều khác biệt trong con mắt và nhận thức của nhiều người VN trong nước hay hải ngoại.

Có thể nói, 10 hay 15 năm sau khi ‘giải phóng miền Nam’, chính quyền Việt Nam mắc nhiều sai lầm, gặp nhiều thất bại trên nhiều phương diện, cả về đối nội và đối ngoại.

Với việc tiến hành đổi mới từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã có những thay đổi tích cực, đặc biệt về mặt kinh tế.

Tuy vậy, dù ‘đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử’ – như ông Nguyễn Tấn Dũng đề cập trong diễn văn của mình – Việt Nam vẫn chỉ là một quốc gia ‘đang phát triển có thu nhập trung bình’.

Cách đây hơn một tháng chính ông Dũng cũng phải thừa nhận rằng, hiện tại Việt Nam đứng chót trong nhóm ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore), ‘thậm chí có lĩnh vực còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar’ – ba nước được coi là kém phát triển nhất trong khối.

Một trong những lĩnh vực mà Việt Nam xếp sau ba quốc gia đó là tự do báo chí. Chẳng hạn, năm 2015, tổ chức Phóng viên không biên giới xếp Việt Nam thứ 175 trên 180 các quốc gia, lãnh thổ - đứng sau Lào (171), Myanmar (144) và Campuchia (139).

Nhắc lại một vài tụt hậu của Việt Nam so với các nước khu vực – những sự thua kém mà ông chính Dũng nói là ‘làm sao mà đất nước mình, dân tộc mình chấp nhận được’ – để thấy rằng sau 40 năm ‘đi lên chủ nghĩa xã hội’, Việt Nam vẫn chưa thực sự tự do, giàu có gì.

Trong bốn thập niên đầu của ‘kỷ nguyên mới’ Việt Nam mới chỉ ‘thoát khỏi tình trạng kém phát triển’. Trong khi ấy cũng với khoảng thời gian tương tự, từ một nước nghèo, kém phát triển, lại thiếu tài nguyên, Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có, phát triển.

Chưa có chuyện hòa giải

   Lý do chính mà giới lãnh đạo Việt Nam vẫn coi Việt Nam Cộng hòa là ‘ngụy’, là ‘tay sai’ và ‘lê máy chém đi khắp miền Nam’ như vậy là nhằm đề công lao, ‘chính nghĩa’ của mình trong ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’

» TS. Đoàn Xuân Lộc
Trước dịp kỷ niệm Ngày 30/4 năm nay, đâu đó có người hy vọng chính quyền Việt Nam sẽ tỏ chút thiện chí, giúp hàn gắn quá khứ, hòa giải dân tộc. Nhưng diễn văn của ông Dũng và đặc biệt bài viết của ông Trọng cho thấy đó vẫn là chuyện xa vời.

Cả hai ông vẫn coi Việt Nam Cộng hòa là ‘ngụy’. Ông Trọng còn mô tả ‘chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm … lê máy chém đi khắp miền Nam, thẳng tay đàn áp các chiến sĩ cách mạng và quần chúng nhân dân’.

Đến giờ giới lãnh đạo Việt Nam vẫn còn có những suy nghĩ, lời lẽ như ông Trọng diễn tả, thì không có gì ngạc nhiên về chuyện những người thuộc chế độ cũ bị tù giam, phải đi cải tạo sau năm 1975.

Lý do chính mà giới lãnh đạo Việt Nam vẫn coi Việt Nam Cộng hòa là ‘ngụy’, là ‘tay sai’ và ‘lê máy chém đi khắp miền Nam’ như vậy là nhằm đề công lao, ‘chính nghĩa’ của mình trong ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’.

Và cũng vì muốn tô đậm hào quang quá khứ nhằm tăng tính chính danh cho mình, họ đã không ngần ngại kể ‘biết bao tội ác dã man’ của Đế quốc Mỹ, trong khi đó hết lòng biết ơn ‘sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc’.

Có điều, Liên Xô thì nay đã tan rã; ‘đồng chí tốt’ Trung Quốc thì đã và đang tìm mọi cách lấn chiếm biển đảo của Việt Nam và vì những động thái bành trướng ấy của Bắc Kinh, chính quyền Việt Nam đang tìm cách gần gũi với Mỹ.

Tác giả cho rằng tư duy của các lãnh đạo Việt Nam tỏ ra không hề mới, nếu như không nói là 'bảo thủ' khi thể hiện ra trong dịp đánh dấu 40 năm ngày 30/4.

Trớ trêu hơn, các phái đoàn của ‘các nước xã hội chủ nghĩa’ và ‘nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới’ tới tham dự ngày kỷ niệm 40 năm ‘Ngày Đại thắng’ – một thắng lợi ‘làm nức lòng bè bạn gần xa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới’ năm nào – chỉ có vài ba nước ‘cộng sản’ nghèo đói, lạc hậu còn lại như Cuba, Campuchia và Lào.

Trong diễn văn của mình, ông Dũng nói ‘với truyền thống hòa hiếu’ Việt Nam ‘nhất quán thực hiện chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai’. Nhưng với những ngôn từ rất cứng rắn, nặng nề - nếu không muốn nói là đầy thù hận - ông và đặc biệt ông Trọng dùng khi nói về ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’, giới lãnh đạo Việt Nam không chỉ không ‘khép lại quá khứ’ mà còn làm những vết thương quá khứ thêm rỉ máu.

Đọc những bài viết, nghe những diễn văn như thế này, ít hay nhiều có thể hiểu được tại sao cố Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt lại được nhiều người quý mến, kính trọng và trân trọng nhắc đến nhiều trong những ngày qua.

Chừng nào Việt Nam vẫn chưa có những lãnh đạo biết cảm thông, hiểu được nỗi đau của người khác, có được những cảm nhận và dám công khai bày tỏ những điều đó như ông Kiệt, chừng đó quá khứ đau thương của đất nước vẫn chưa được hoàn toàn khép lại.

Và có thể nói Việt Nam chỉ thực sự hòa hợp, hòa giải và giàu mạnh, tự do, chỉ khi nào có những lãnh đạo – thay vì cứ nhắc mãi ‘hào quang quá khứ’, sáng tối ‘giáo điều’ hay giữ lòng thù hận – biết lắng nghe, cởi mở, bao dung và thức thời như ông.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả

TS. Đoàn Xuân Lộc
Theo BBC
 
Top ↑ Copyright © 2011. Tiếng Chim Việt - All Rights Reserved
Welcome to Tiếng Chim Việt