Tiếng Chim Việt
Tin Nóng :
Bài Mới

Đăng bởi Thùy Trâm on Thứ Năm, ngày 02 tháng 7 năm 2015 | 23:30


Sáng nay, 2-7-2015, anh bạn "chè xanh" của tôi đưa người em út - theo con từ Bến Cát, Bình Dương xuống Sài Gòn thi - đi ăn phở Phú Gia. Người em lặng đi khi thấy anh tính tiền một tô phở có giá 65 nghìn VND. Anh ấy may mắn có một ông anh ở Sài Gòn nên không phải vất vả tìm chỗ trọ, không phải chịu "cơm đường cháo chợ" đắt đỏ như hàng triệu phụ huynh học sinh "lai kinh ứng thí" khác.

Ai nghĩ ra cái chính sách quái gở bắt học sinh từ tỉnh này sang tỉnh kia, đặc biệt là vào những thành phố lớn để thi. Chưa nói chuyện tiền bạc, chỉ cần một sơ sẩy về đường sá, tới chậm giờ thi là lại uổng công các em một năm đèn sách.

Đây là năm đầu tiên thí sinh chỉ chịu một kỳ thi thay vì hai như các năm. Đành rằng cái gánh trên vai phụ huynh và học sinh có giảm hơn. Nhưng, cơ sở lý luận nào để coi việc giảm một kỳ thi là cải cách; cơ sở lý luận nào để gộp kỳ thi tốt nghiệp phổ thông với kỳ thi tuyển sinh đại học.

Một học sinh đã học 12 năm ở trong trường phổ thông, đã được lên từng lớp, đã được lên từng cấp, đã trải qua các kỳ kiểm tra trong năm học tại sao không đương nhiên được coi là đã "hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông". Đành rằng, chất lượng giáo dục từng em không thể giống nhau nhưng chính các em sẽ bắt đầu chịu sàng lọc của thị trường lao động và của từng cánh cửa trường đại học.

Trong "diễn từ" đọc tại lễ mừng tốt nghiệp của 100 tân khoa Đại học Hoa Sen, Hiệu trưởng Bùi Trân Phượng cho biết có 80 tân khoa đã tìm được việc làm trước ngày ra trường. Chính thị trường lao động chứ không phải Bộ Giáo dục sẽ phân loại các trường đại học. Vậy tại sao Bộ lại nhảy xổ vào việc tuyển sinh của các trường.

Tại sao lại không để cho các trường kém danh tiếng nhận tất cả học sinh đã "hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông" mà không cần thi. Đừng nghĩ về đại học quá cao siêu mà hãy coi nó như một trạm dừng chân của những người trẻ tuổi trước khi trưởng thành. Những người không có đủ học lực vào những trường học cho họ nhiều cơ hội tốt nhưng lại vẫn cần những kiến thức căn bản để làm người trước khi nhận ra khả năng thật của mình là gì để nỗ lực vào một trường đại học khác hoặc về lại nhà giúp mẹ cha đồng áng.

Tại sao lại không để cho các trường đại học có uy tín tự đưa ra chính sách tuyển sinh, có thể tự tổ chức thi cử, xét học bạ, phỏng vấn hoặc dựa vào kết quả các kỳ thi do một trung tâm khảo thí độc lập tổ chức. Kể cả những kỳ thi do các tổ chức giáo dục nước ngoài tiến hành.

Tại sao?

Trong Hội thảo Giáo dục của nhóm Đối Thoại Giáo Dục do GS Ngô Bảo Châu khởi xướng tổ chức tại Sài Gòn năm 2014, sau hai ngày lắng nghe, ông Thứ trưởng Giáo dục Bùi Văn Ga trả lời tỉnh bơ: Các ý kiến ở đây không có gì mới, chúng tôi đã biết hết cả rồi. Tôi tin là ông Ga nói thật lòng. Trong thời đại ngày nay không có kiến thức nào của loài người tiến bộ lại quá xa lạ với quan chức Việt Nam. Vấn đề là tại sao các quan chức Việt Nam lại cứ cắm đầu cắm cổ duy trì những chính sách hành hạ người dạy và người học.

Câu trả lời cũng không có gì khó. Nếu Bộ Giáo dục chỉ đưa ra các "phép tắc" mà không đồng thời là người ban cho các "phép tắc" thì Bộ sẽ có chính sách đúng đắn ngay. Một khi những người ban hành các chính sách đang có thể trục lợi trên những chính sách phiền hà mà họ đưa ra thì không bao giờ có những chính sách hợp lòng dân được.

Khi tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân ra nắm Bộ Giáo dục, khi ông đang được dân chúng kỳ vọng và bàn tay chưa kịp nhúng chàm, tôi đề nghị ông nên tách các vụ tham mưu chính sách ra khỏi các cục thực thi chính sách (nếu vẫn duy trì việc cấp phép ở cấp Trung ương). Các vụ không được dính vào quy trình đăng ký hay cấp phép. Tốt nhất là Bộ chỉ đưa ra các điều kiện rồi giao cho các địa phương căn cứ các điều kiện đó mà cho các cơ sở giáo dục - kể cả các trung tâm khảo thí - đăng ký. Bộ Giáo dục vẫn như cũ cho tới khi ông Nhân ra khỏi đó.

Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu nhiệm kỳ thứ II, tôi viết bài "Ba Khâu Đột Phá Của Thủ Tướng"(2-8-2011), trong đó "khâu thứ Nhất" tôi đề nghị: "Với năng lực của cá nhân Thủ tướng và đội ngũ cố vấn hiện thời, Chính phủ chưa nên ban hành chính sách gì mới. Việc đầu tiên, trong phạm vi quyền Hiến định của mình, Chính phủ nên sắp xếp lại các cơ quan chính phủ theo hướng tách bạch chức năng hành pháp chính trị và hành chính công vụ".

Chỉ còn nửa năm nửa là kết thúc nhiệm kỳ II, chưa thấy quyết định gì có thể gọi là cải cách.

Huy Đức
Theo FB Huy Đức

Cách đây mấy ngày, tôi có dịp chuyện trò với một đồng nghiệp chuyên dạy về phương pháp giảng dạy tiếng Anh cho người nước ngoài (TESOL, Teaching English to Speakers of Other Languages). Chị thường đi dạy trong các lớp Thạc sĩ tại Việt Nam cũng như nhiều nước khác ở châu Á. Tôi hỏi chị về các sinh viên Việt Nam. Chị rất khen họ. Rằng phần lớn đều học hành một cách chăm chỉ. Rằng phần lớn đều gặp khó khăn trong việc nghe và nói nhưng khả năng đọc và viết thì rất khá. Rằng phần lớn đều thân thiện, lịch sự và lễ phép với các thầy cô giáo. Nói chung, ấn tượng của chị về họ đều rất tốt. Chị khen họ hơn sinh viên của bất cứ nước nào khác.

Tuy nhiên, sau khi khen ngợi một cách nồng nhiệt, chị hơi khựng lại một chút, rồi băn khoăn: Chị không hiểu tại sao tất cả (chị nhấn mạnh: TẤT CẢ) các sinh viên Việt Nam, trong đó, có khá nhiều người đã và đang dạy tiếng Anh trong các trường trung học, lại thường có cái nhìn hết sức tiêu cực về tình hình dạy tiếng Anh cũng như về tình hình giáo dục Việt Nam nói chung. Tất cả các bức tranh họ vẽ ra đều đen tối. Lớp học thì đông. Động cơ học tập của học sinh khá yếu. Tài liệu giảng dạy cũ kỹ. Phương pháp giảng dạy lạc hậu. Do đó, kết quả thường rất ít: Phần lớn học sinh, sau sáu bảy năm học ở trung học, đều không thể nghe và nói tiếng Anh được.

Với người bạn đồng nghiệp người Úc của tôi, những nhận xét tiêu cực về nền giáo dục của các sinh viên Việt Nam là một hiện tượng rất lạ. Ngoài Việt Nam, chị cũng thường xuyên dạy học tại các nước khác, từ Singapore đến Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc. Ở các nước ấy, hầu hết các sinh viên đều có cái nhìn khá lạc quan, thậm chí, đôi khi, có vẻ tự hào về nền giáo dục nước họ. Không ở đâu sinh viên lại bi quan như ở Việt Nam.

Người bạn đồng nghiệp của tôi lại hỏi tiếp: Sau khi tốt nghiệp các lớp về phương pháp giảng dạy của Úc, họ có hy vọng sẽ thay đổi tình hình giáo dục, ít nhất là trong bộ môn tiếng Anh, tại Việt Nam hay không? Tất cả đều trả lời: Không. Họ cho những khó khăn trong việc dạy học tại Việt Nam không phải chỉ ở trình độ của các thầy cô giáo mà còn ở môi trường giáo dục chung của Việt Nam. Chị nhận xét: Rõ ràng họ không những bi quan mà còn tuyệt vọng. Chị hỏi tôi: Tại sao như vậy? Tại sao ở một đất nước có vẻ như đang phát triển rất nhanh mà các sinh viên, tức thành phần trí thức, lại có cái nhìn bi quan và tuyệt vọng đến như vậy?

Tôi đáp: Đó là một thực tế. Quả thật nền giáo dục tại Việt Nam đang bị bế tắc. Bế tắc từ chính sách đến các khâu thực hiện và thực hành. Không những chỉ trong bộ môn tiếng Anh mà hầu như ở tất cả các môn học khác cũng đều vậy: thất bại. Học sinh bị nhồi nhét quá nhiều những thứ kiến thức cũ kỹ và lạc hậu. Môi trường giáo dục lại không tốt cho việc phát huy óc sáng tạo và khả năng tự học cũng như tự nghiên cứu của học sinh và sinh viên.

Người bạn đồng nghiệp của tôi, sau đó, nêu lên hai nhận xét mà tôi rất tâm đắc:

Thứ nhất, sự thất bại của một số học sinh trong lớp có thể xuất phát từ nhiều lý do, nhưng lý do quan trọng nhất là từ kiến thức và kỹ năng giảng dạy của các thầy cô giáo; nhưng sự thất bại của hầu hết các học sinh ở tất cả các trường thì lại có nguyên nhân từ nền giáo dục; trong khi đó, sự thất bại của cả nền giáo dục thì lại có nguyên nhân sâu xa từ các chính sách của nhà nước, trong đó, có cả vấn đề thể chế chính trị.

Thứ hai, người bạn đồng nghiệp của tôi lý luận tiếp: Nếu nguyên nhân sâu xa nằm ở thể chế chính trị thì để thay đổi hiện trạng giáo dục, người ta phải nhắm đến việc thay đổi hoặc cải thiện thể chế chính trị. Nhưng ở đây, chị lại bắt gặp hai hiện tượng nghịch lý: Một mặt, các sinh viên của chị đều tránh né nói chuyện chính trị, hoặc nếu nói, cũng không thể hiện một tầm nhìn nào thực sự sâu sắc và có tính chiến lược. Phần lớn chỉ dừng lại ở mức thở than. Mặt khác, hầu như tất cả đều chỉ nghĩ đến bản thân mình. Khi chị hỏi: Bi quan như vậy, tại sao các sinh viên lại chịu bỏ một số tiền khá lớn để theo học các trường quốc tế, tất cả đều trả lời có ba lý do chính: Một là để nâng cao tiếng Anh; hai là để học tập được các phương pháp giảng dạy mới từ Tây phương; và ba là để có một mảnh bằng quốc tế nhằm dễ xin dạy ở các trường lớn và lương cao. Không có động cơ nào gắn liền với hy vọng cải thiện giáo dục cả.

Chị so sánh với các sinh viên Úc: Thứ nhất, hầu hết các sinh viên Úc đều không có tâm trạng bi quan như vậy; thứ hai, trong các buổi thảo luận, sinh viên Úc không những chỉ quan tâm đến các phương pháp giảng dạy hay hiệu quả của việc giảng dạy mà còn để ý đến các chính sách giáo dục của chính phủ cũng như của các đảng phái đối lập và họ cũng thường có một thái độ rõ ràng về các chính sách ấy.

Thật ra, những nhận xét của người bạn đồng nghiệp, với tôi, không có gì mới lạ. Tôi biết tất cả những điều đó. Hầu hết người Việt Nam cũng đều biết rõ những điều đó: Sự bi quan và tuyệt vọng của mọi người đối với tình hình giáo dục cũng như tình hình đất nước nói chung. Tuy nhiên, nếu sự tuyệt vọng đối với viễn ảnh giáo dục hay đất nước là một hiện tượng đáng buồn thì thái độ không quan tâm đến chính trị và chỉ nghĩ đến bản thân mình của phần lớn giới trí thức lại là một hiện tượng rất đáng lo lắng: Đó là sự tuyệt vọng đối với tình hình chung của đất nước.

Người ngoại quốc, khi nhận định về Việt Nam, vẫn có sự dửng dưng của một kẻ ngoại cuộc. Với chúng ta, người Việt Nam, đối diện với những sự tuyệt vọng ấy, bao giờ cũng thấy nhói lên trong lòng những cảm giác xót xa.

Nguyễn Hưng Quốc
Theo VOA
Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt

Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, ảnh minh họa chụp trước đây.


Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, vào tuần tới sẽ đến Hoa Kỳ trong chuyến công du đầu tiên của một người đứng đầu đảng cầm quyền tại Việt Nam đến Hoa Kỳ.

Chuyến đi này được giới chuyên gia đánh giá ra sao?

Mỹ chìa tay cho VN?

Nhiều chuyên gia về Việt Nam, nhất là mối quan hệ Hà Nội- Washington, trong những ngày qua lên tiếng cho rằng chuyến công du của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ lần này mang tính ‘biểu tượng’. Chính phủ Mỹ hiểu rõ hệ thống chính trị của Việt Nam là đảng cộng sản nắm toàn quyền cai trị, dù rằng Việt Nam cũng có chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia và thủ tướng là người đứng đầu chính phủ.

  Tôi có kỳ vọng ngay trong ngắn hạn là sau chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng đến Washington gặp tổng thống Obama phía VN có thể chấp nhận một số cam kết, thực hiện một số cam kết về nhân quyền: thả tù nhân lương tâm, chấp nhận hoạt động đương nhiên của các tổ chức xã hội dân sự.

» Phạm Chí Dũng
Hoa kỳ từng tiếp thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005, chủ tịch Nguyển Minh Triết năm 2007, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2008 và chủ tịch nước Trương Tấn Sang năm 2013 tại Nhà Trắng. Tuy nhiên lần này thông tin nói ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ được tổng thống Barack Obama tiếp tại Nhà Trắng khiến nhiều người quan tâm.

Luật sư Vũ Đức Khanh, từ Canada, có bình luận về tin ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được gặp người đứng đầu chính phủ Mỹ tại chính nơi làm việc của nguyên thủ Hoa Kỳ như sau:

“Tôi nghĩ rằng vì chiến lược chuyển trục sang Á Châu-Thái Bình Dương của tổng thống Hoa Kỳ Obama, cho nên Nhà Trắng sẽ làm một ngoại lệ là tiếp ông tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Thật sự ra có nhiều người từng vào Nhà Trắng, trong đó có những nhà lãnh đạo cộng đồng như Đức Dalai Lama, hoặc gần đây chúng ta có thấy tổng thống Obama tiếp anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trong Nhà Trắng. Vì vậy vấn đề ông Trọng vào Nhà Trắng cũng không phải là vấn đề gì quá to tát. “


Vai trò cá nhân lãnh đạo

Đối với những người trong nước thì vai trò của ông Nguyễn Phú Trọng không giống những vị nguyên thủ quốc gia khác có thể có những quyết định cá nhân. Trong trường hợp Việt Nam với cơ chế tập thể làm chủ, Bộ Chính Trị đưa qua quyết định và ông Nguyễn Phú Trọng chỉ là người được chọn để mang đi thông điệp đã được thống nhất.

Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng tiếp Ngoại trưởng John Kerry (trái) tại Hà Nội hồi năm 2013. AFP PHOTO/POOL/LUONG THAI LINH.
Luật sư Vũ Đức Khanh nói về điều này:

“Việt Nam không phải là một trục quan trọng trong chiến lược chuyển trục sang Á châu- Thái Binh Dương của Hoa Kỳ; tuy nhiên Việt Nam sẽ là một trong những tiền đồn quan trọng cua liên minh Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương vì Việt Nam có đường biên giới sát với Trung Quốc và có cùng ý thức hệ với Trung Quốc. Nếu như Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc thì bắt buộc Hoa Kỳ phải mở một vòng tuyến Đông Nam Á, phải sử dụng trục của Eo biển Malacca, trong đó có Singapore, Mả Lai và Indo. Vì không muốn trục Đông Nam Á đó phải dời xuống tận cùng của khu vực Biển Đông, bằng mọi giá Hoa Kỳ muốn giữ được một thế cân bằng ở Việt Nam. Mục đích của Hoa Kỳ là muốn sử dụng Việt Nam như một vùng ‘trái độn’ nếu như Hà Nội ngả về phía Trung Quốc thì ít nhất Hoa Kỳ còn kiểm soát được một vùng nào đó. Tôi không muốn trở lại cuộc chiến tranh trước đây ở vùng vĩ tuyến thứ 17; nhưng Hoa Kỳ phải bằng mọi giá với cách nào đó giữ được vùng nào đó ở phía nam Việt Nam, dùng Việt Nam như vùng ‘trái độn’.

Nếu Việt Nam không ngả hẳn về phía Trung Quốc hay Hoa Kỳ thì Mỹ thành công ở mức độ vô hiệu hóa Việt Nam và Trung Quốc.”

Kỳ vọng giới hạn và lực cản Trung Quốc!

Một người theo dõi sát tình hình Việt Nam hiện nay, nhà báo Phạm Chí Dũng, từ Sài Gòn thừa nhận quyết định cử ông tổng bí thư đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng sang Hoa Kỳ trong thời điểm hiện nay cũng khiến những người như ông có một số kỳ vọng. Nhà báo Phạm Chí Dũng phát biểu:

“Tôi có kỳ vọng ngay trong ngắn hạn là sau chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng đến Washington gặp tổng thống Obama phía Việt Nam có thể chấp nhận một số cam kết, thực hiện một số cam kết về nhân quyền: thả tù nhân lương tâm, chấp nhận hoạt động đương nhiên của các tổ chức xã hội dân sự.

Về dài hạn thì còn tùy thuộc vào Trung Quốc mà Trung Quốc thì đang muốn chiếm lấy Biển Đông. Trong những ngày này chúng ta thấy xuất hiện giàn khoan Hải Dương 981 như những gì mà nó đã ‘vươn vòi’ vào tháng 5, tháng 6 năm 2014. Nếu như Trung Quốc vẫn cố tình gây hấn với Việt Nam; điều đó sẽ trở thành sức cản đáng ngại đối với vấn đề thay đổi thể chế và sự phát triển dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.”


  Tôi không đặt nhiều kỳ vọng vào chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng vì chắc chắn Đại hội 12 ông Trọng cũng sẽ nghỉ. Thứ hai theo tôi nghĩ ông Trọng không phải là con người quyết đoán, có tư duy táo bạo, không có năng lực thực sự.

» Võ Văn Tạo
Về sức cản của Trung Quốc, thì nhà nghiên cứu Biển Đông Trương Nhân Tuấn từ Pháp nêu ra việc Bắc Kinh vừa cho di chuyển giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng chồng lấn tại Vịnh Bắc Bộ như hiện nay là có tính toán đối với chuyến công du Hoa Kỳ của người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam. Ông này nhận định:

“Tôi nghĩ trong vài ngày tới giàn khoan này có thể di dịch về phía bờ biển Việt Nam, ở một vị trí gây tranh cãi như hồi năm ngoái để làm áp lực với ông Trọng nếu ông này biểu lộ những ý tưởng thân Mỹ.”

Nhà báo Võ Văn Tạo từ Nha Trang cũng có ý kiến về chuyến công du Mỹ của ông tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như sau:

“Việc người Mỹ có mời ban lãnh đạo Việt Nam mà năm ngoái có ông Phạm Quang Nghị sang thăm với tư cách thành viên Bộ Chính Trị và bí thư thành ủy Hà Nội, và năm nay ông Nguyễn Phú Trọng. Nhưng tôi không đặt nhiều kỳ vọng vào chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng vì chắc chắn Đại hội 12 ông Trọng cũng sẽ nghỉ. Thứ hai theo tôi nghĩ ông Trọng không phải là con người quyết đoán, có tư duy táo bạo, không có năng lực thực sự. Do đó tôi không hy vọng lắm về chuyến đi của ông Trọng.

Mặc dù các diễn biến ở khu vực với tình hình như ở Myanmar, tôi biết người Mỹ có vai trò rất lớn trong việc thuyết phục chế độ độc tài quân sự của thống chế Thein Sein theo xu hướng dân chủ hóa ở mức độ nào đó. Myanmar có thể được như thế nhưng còn Việt Nam tôi cho rằng khả năng đó rất hiếm có. Ai cũng muốn nó xảy ra, nhưng theo tôi nghĩ khó, rất khó, mà tôi cho tỷ lệ hầu như chỉ là 1 hoặc 2% thôi.”


Trong tuần qua, có tù nhân lương tâm luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân mãn án tù 30 tháng và được trả về nhà. Trường hợp này khác hẳn trước đây người khởi xướng CLB Nhà báo Tự Do và chống Trung Quốc Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, sau khi mãn án tù với lý do trốn thuế bị giam lại ngay với cáo buộc chính trị.

Một tù nhân chính trị khác là ông Lê Thanh Tùng ở Sóc Sơn Hà Nội được tha về sớm 5 tháng. Điều này được một số người cho rằng đó là món quà mà ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mang theo sang Mỹ lần này.

Tuy nhiên, luật sư Vũ Đức Khanh trích dẫn phát biểu của đại sứ Mỹ ở Việt Nam, Ted Osius, rằng Hà Nội không thể dùng tù chính trị để đổi chác, mà mối quan hệ song phương Việt- Mỹ phải được xây dựng trên nền tảng những giá trị mà hai phía cùng chia xẻ. Hoa Kỳ muốn giúp Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường, thịnh vượng, trong đó có tôn trọng những quyền cơ bản của người Việt Nam.

Gia Minh
phóng viên RFA
Theo RFA

Một hình ảnh qua vệ tinh cho thấy Trung Quốc sắp hoàn tất việc xây dựng một phi đạo dài 3.000 mét trên bãi Đá Chữ Thập nằm trong vùng đảo tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa mà Việt Nam gọi là Biển Đông


Chuyên mục Câu chuyện trong tuần với chủ đề tuần này: Biển Đông và chuyến đi của TBT Nguyễn Phú Trọng. Xin trân trọng giới thiệu GS Nguyễn Mạnh Hùng, từng giảng dạy bộ môn Quan hệ quốc tế của đại học George Mason là khách mời của chương trình hôm nay. Câu hỏi đầu tiên được Mặc Lâm đặt ra cho GS:

Mặc Lâm: Trung Quốc tỏ ra không ngán ngại việc Mỹ mạnh mẽ lên tiếng trước chuyện họ bồi đắp các đảo một cách bất hợp pháp và mới đây lại mang giàn khoan HD 981 trở lại biển Đông. Theo ông thì những động thái này nói lên điều gì?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Nó nói lên chính sách lấn biển uyển chuyển, thiên hình vạn trạng của TQ. Năm ngoái vụ dàn khoan HD 981 tạo phản ứng rất mạnh từ nhiều nước, nhất là từ Việt Nam và Mỹ. Một phần vì thế, TQ rút dàn khoan đi. Chỉ sau đó vài tháng họ bắt đầu đào cát đắp đảo, biến các đá ngầm thành đảo nổi, lúc đầu chậm, rồi tăng rất nhanh. Khi người ta phát hiện ra các đảo nhân tạo và phản ứng mạnh thì nó đã thành “sự đã rồi,” không đảo ngược được. Động thái này gây ra phản ứng rất mạnh của Mỹ. Do đó, ngày 16/6. TQ tuyên bố đã làm xong việc và sẽ chấm dứt việc xây cất trong vài ngày tới, để xoa dịu dư luận. Mỗi lần như thế TQ lại tiến thêm một bước nhỏ nhưng vững chắc cho đến khi họ kiểm soát trên thực tế (de facto) được toàn thể vùng biển trong khu vực đường lưỡi bò mà họ vạch ra.

Mặc Lâm: Trong tuần lễ vừa qua Hoa Kỳ không có phản ứng gì chính thức trước các tuyên bố của Ngoại trưởng Vương Nghị cũng như giàn khoan HD 981. Phải chăng đã có một biến chuyển nào đó khiến tình hình trở nên im ắng một cách bất thường?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Có 2 lý do: thứ nhất Mỹ chú trọng nhất đên việc TQ lấy cát xây đảo vì nó vừa tạo ra “sự đã rồi,” vừa làm thay đổi thế cân bằng chiên lược có lợi cho TQ ở Biển Đông. Sau khi gặp sự phản đối của Mỹ và trước cuộc đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ-TQ, ngày 16 tháng 6, TQ tuyên bố gần hoàn tất việc xây cất và sẽ chấm dứt việc xây cất trong vài ngày tới.

Thứ hai Lần trước giàn khoan HD 981 được đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và gần bờ biển VN. Lần này, nó cũng được đặt trong vùng chồng lấn giữa khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam và khu vực đặc quyền kinh tế của TQ, nhưng nó chỉ cách đảo Hải Nam của TQ 75 dặm trong khi cách bờ biển Việt Nam 104 dặm, nghĩa là gần TQ hơn.

Mặc Lâm: Thưa GS việc TBT Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ vào đầu tháng 7 này được xem là một diễn tiến có tính lịch sử, tuy nhiên đối với nước Mỹ, giới quan sát chính trị không đánh giá cao việc này. Giáo sư có nghĩ rằng ông Trọng sẽ mở đầu một tư thế mới cho Việt Nam trước vấn đề Biển Đông đối với Mỹ hay không?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Lúc đầu người ta nghi ngờ sự thành công của chuyến đi và sự khó khăn trong việc sắp xếp thủ tục tiếp đón một nhà lãnh đạo đảng chứ không phải một nhà lãnh đạo nước.
Bây giờ hai bên đã thương lượng kỹ trước, và đã đạt được những thỏa thuận căn bản về kết quả của chuyến thăm Mỹ của TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng, giúp tăng cường rõ rệt quan hệ quốc phòng giữa hai nước, cho nên mơi trù liệu có cuộc gặp gỡ “lịch sử” giữa TT Obama và TBT Trọng tại Nhà Trắng và ra “Tuyên bố chung về Tầm nhìn của quan hệ Đối tác toàn diện và sâu rộng giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” cùng với “Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ về quan hệ quốc phòng, định hướng hợp tác quốc phòng thời gian tới.”

Nếu hai bên đồng ý thêm về việc gia tăng các chuyến thăm viếng Việt Nam của hải quân Mỹ, nhất là cảng Cam Ranh, thì cuộc công du của ông Trọng sẽ đánh dấu một thỏa thuận quan trọng về phương diện chiến lược giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Quan trọng hơn vì người ta thường cho rằng Đảng CSVN mà ông Trọng là người lãnh đạo tối cao có khuynh hương thân TQ, chống đi với Mỹ. Nếu ông Trọng làm được việc này, nó là chỉ dấu cho thấy có sự đồng thuận quan trọng trong nội bộ Việt Nam giữa Đảng và Nhà nươc về chính sách đối với Mỹ trong thế cân bằng quyền lực với TQ. Sự đồng thuận này sẽ làm căn bản cho chính sách của các nhà lãnh đạo VN tương lai, sau Đại Hội Đảng năm 2016.

Mặc Lâm: Một lần nữa xin cám ơn GS Nguyễn Mạnh Hùng.

Mặc Lâm,
phóng viên RFA
Theo RFA


     
Tại sao Hoa Kỳ lại đang tán tỉnh Việt Nam

Trong nhiều năm nay, vì cùng lo ngại về tham vọng của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam đã di chuyển gần hơn đến một hiệp ước thân thiện có tính chiến lược. Nhiều người ở Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ tìm cách khiến Việt Nam chống lại Trung Quốc. Nhưng quan điểm đó đã trúng mũi tên nhân quả ngược lại: Đó chính là cuộc tìm kiếm quyền bá chủ của Trung Quốc trên Biển Đông đã khuyến khích Hoa Kỳ và Việt Nam phải khôi phục mối quan hệ vốn dĩ rách nát của họ.

Một dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ và Việt Nam nghiêm túc trong việc tăng cường mối quan hệ của mình là việc Tổng thống Barack Obama đồng ý gặp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Washington vào đầu tháng Bảy. Việc một người chỉ đứng đầu một đảng phái lại được diện kiến trong Phòng Bầu Dục là điều rất hiếm hoi, nhưng có một số nguyên nhân vì sao Trọng được sự chú ý của Obama. Nguyên nhân quan trọng nhất là, vị tổng bí thư, người đã đích thân yêu cầu cuộc gặp này, từng nung nấu mối nghi ngờ về ý định của Mỹ đối với Hà Nội. Và mối lo âu này, cũng phản ánh nơi những đồng minh của ông giữa các phe phái trong Đảng Cộng sản, là trở ngại cuối cùng cho một quan hệ gần như liên minh giữa Việt Nam và kẻ thù của mình trong 40 năm trước đây.

Những nghi ngại này bắt nguồn từ khuynh hướng tư tưởng của Trọng là một chuyên gia về chủ nghĩa Mác-Lênin, khiến ông cảnh giác với các nước dân chủ cùng động cơ của họ và đã đưa ông ta đến sự nghi ngờ rằng Washington có ý định xấu với chế độ Hà Nội. Trong những năm qua, Trọng và các đồng minh của ông đã tô vẽ hình ảnh của Hoa Kỳ như một cái gì xấu xa và không quan tâm đến mong muốn của Hà Nội. Mặc dù – căn cứ sự chia rẽ giữa các phe phái đằng sau mặt tiền đoàn kết Việt Nam - đó là sự tiến bộ (nói một cách tương đối) liên kết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người dường như đang có câu trả lời tốt hơn cho các vấn đề của Việt Nam, Trọng và những người bảo thủ khác vẫn còn chỉ huy các cơ quan đảng cầm quyền. Do đó, họ có thể làm hỏng các sáng kiến cải cách mà họ không thích. Họ cũng là những người cổ vũ những lời lẽ tiêu cực chống lại Hoa Kỳ.

Tổng bí thư Đảng CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng, đang duyệt đội danh dự, 20/12/2014.

Bốn mươi năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, những lời lẽ tiêu cực ấy vẫn còn dẫn dắt học thuyết của đảng. Cán bộ các cơ quan an ninh nội bộ của Việt Nam khó có thể viết ra một đoạn văn về Hoa Kỳ mà không bao gồm những từ ngữ như "đập tan các âm mưu của kẻ thù" chống lại chính quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. Phương tiện truyền thông của Đảng thường xuyên cảnh báo chống lại "kịch bản diễn biến biến hòa bình", một quan điểm cho rằng các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam (đặc biệt là những tổ chức được Washington hỗ trợ) sẽ lật đổ và kích hoạt những biến động như những gì từng lật đổ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.

Về vấn đề này, Trọng và các đồng minh của ông bước lạc điệu với dân chúng của mình và thậm chí cả với nhiều đảng viên. Công dân Việt Nam muốn nhìn thấy đất nước của họ sánh hàng với Hoa Kỳ hơn là với Trung Quốc. Trong sáu năm kể từ khi Bắc Kinh bắt đầu từng bước từng bước áp đặt quyền bá chủ của mình trên Nam Hải – khu vực rộng lớn mà Việt Nam kiên trì gọi là "Biển Đông của chúng tôi" – Đa số trong hơn ba triệu đảng viên cũng kết luận rằng, một lần nữa, Trung Quốc vẫn là mối đe doạ, như đã từng trong suốt mối quan hệ của Việt Nam với người láng giềng phương Bắc.

Đối với Trọng và các đồng minh của ông, tránh dính vào sự đối đầu với Trung Quốc trong khi vẫn tham gia hợp tác với Trung Quốc ở tất cả các cấp chính quyền và cấu trúc đảng cầm quyền là cách tốt nhất để xoa dịu Bắc Kinh. Họ quan niệm rằng lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á mạnh hay yếu là phụ thuộc vào những gì khác đang khiến Washington bận tâm, còn "Trung Quốc vẫn luôn luôn ở đó," một hiện diện khó chịu ngay sát biên giới của Việt Nam.

  Bằng cách trả lời những lo ngại thực sự của phía Việt Nam, Obama có thể thuyết phục Trọng (và đồng minh của ông) tin rằng người Mỹ có thể là một đối tác tin cậy với những lợi ích tương thích [với lợi ích của Việt Nam]. Đối xử tốt với phe bảo thủ của Hà Nội có thể tạo một con đường vững chắc để xây dựng một hiệp ước Việt - Mỹ mà tưởng chừng khó có thể đạt được.
Chiến lược đó đã ngày càng khó được chấp nhận, kể từ khi Bắc Kinh đòi chủ quyền trên hơn một triệu dặm vuông biển khơi, trải dài từ bờ biển phía nam Trung Quốc đến tận gần Singapore. Từ 2009, mỗi khi đến mùa khô, Trung Quốc ủng hộ tuyên bố của mình bằng cơ bắp quân sự và bán quân sự ở Biển Đông. Tuy nhiên, khi gió mùa hàng năm đến, Trung Quốc lại chuyển sang chế độ đàm phán.

 Mặc dù các nhà lãnh đạo đảng Việt Nam thường xuyên đi Bắc Kinh, hy vọng sửa chữa "mối quan hệ đặc biệt" và "xây dựng sự hiểu biết sâu sắc hơn," nhưng hành vi của Trung Quốc trong những năm gần đây đã khiến ngay cả Trọng và các đồng minh ý thức hệ của ông cũng phải phật lòng. Được biết, họ đã rất ngạc nhiên bởi việc năm ngoái Trung Quốc triển khai một giàn khoan nước sâu vào vùng biển rõ ràng, hợp lý thuộc về Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Không lâu sau đó, Trọng âm thầm cho biết rằng ông muốn đi thăm Washington.

Một đảng viên bảo thủ khác, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, đã ở Washington trong tháng ba, chuẩn bị cho chuyến thăm đang chờ Trọng và đánh bóng các chính sách đối ngoại của ông trước Đại hội Đảng vào tháng Giêng năm 2016. Sau đó, vào đầu tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter và người đồng cấp Việt Nam đã ký một thỏa thuận tại Hà Nội vốn tạo dễ dàng hơn cho Việt Nam được Mỹ thông qua việc mua sắm các thiết bị quân sự. Cho rằng nó theo sát sau Shangri La hội nghị hàng năm của trưởng an ninh châu Á, chuyến thăm ngắn ngủi của Carter đã báo hiệu rằng Mỹ và lợi ích của Việt Nam trong vùng biển Đông đang có dấu hiệu song hành.

Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh vào 1/6/2015 tại Hà Nội

Cụ thể, Việt Nam muốn Trung Quốc ngừng thách thức chủ quyền của mình đối với các mỏ dầu và các đảo nhỏ phía ngoài bờ biển của mình. Còn Hoa Kỳ, như Carter đã nhấn mạnh một ngày trước đó tại Singapore, muốn "nước Trung Quốc đang vươn lên" phải chơi đúng luật. Ông giải thích, cả sức mạnh lẫn sự tổn thương trong quá khứ đều không thể lý giải cho việc Bắc Kinh áp đặt chủ quyền (ví dụ như, ngăn cản quyền đi qua không gây hại) lên những vùng lãnh thổ mà họ chưa bao giờ sở hữu trong thời quá khứ đế quốc của mình; và không phải vì quyền lợi riêng của mình mà nước nào cũng có thể bỏ qua những khuôn khổ giải quyết tranh chấp được luật pháp quốc tế tạo ra.

 Chắc chắn Trung Quốc đã lưu ý đến những chuyến viếng thăm này. Khi biết được chuyến đi sắp đến Washongton của Trọng, Bắc Kinh đã gửi đến Trọng một lời mời gần như ngay lập tức, mà ông chấp nhận. Do đó, trong bốn ngày đầu tháng Tư, Bắc Kinh đã trải thảm đỏ đón rước Trọng và đoàn tùy tùng của ông. Tuy nhiên, trong các lý giải về các cuộc gặp của họ, không có dấu hiệu gì cho thấy các cuộc đàm phán mang lại được bất kỳ kết quả cụ thể nào. Chỉ đơn giản là sự lặp lại của các công thức giờ đã mệt mỏi: lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình và Trọng hứa hẹn những "nỗ lực chung để kiểm soát các tranh chấp hàng hải, bảo vệ hòa bình và ổn định."

 Chuyến thăm sắp tới của Trọng đến Washington có thể chứng minh là nhiều thực chất hơn. Với Đại hội Đảng quan trọng sắp tới, chính trị Việt Nam đang thay đổi liên tục. Vì vậy, đây là thời điểm tốt cho Washington để có một cuộc đối thoại thân mật với Trọng. Bằng cách giải quyết các mối quan tâm thực sự của Việt Nam, ông Obama có thể thuyết phục Trọng (và rộng hơn: các đồng minh trong phe phái của Trọng) tin rằng người Mỹ có thể là đối tác đáng tin cậy với lợi ích tương thích. Cử chỉ đẹp với phe bảo thủ của chế độ Hà Nội có thể củng cố một lộ trình dẫn đến một hiệp ước Mỹ-Việt vốn cho đến nay vẫn tỏ ra là khó đạt được.
     
Why the United States is Courting Vietnam

For several years now, the United States and Vietnam have been moving closer to a strategic entente grounded in mutual apprehension of China’s ambitions. Many in Beijing claim that the United States seeks to turn Vietnam against China. But that view has got the causal arrow backward: It is precisely China’s quest for hegemony over the South China Sea that keeps encouraging the United States and Vietnam to restore their patchy relations.

One sign that the United States and Vietnam are serious about strengthening their ties is President Barack Obama’s agreement to meet General Secretary Nguyen Phu Trong, the head of Vietnam’s Communist Party, in Washington in early July. It’s a very rare thing for a mere party leader to have face time in the Oval Office, but there are several reasons why Trong merits Obama’s attention. Most importantly, the general secretary, who had personally asked for this meeting, has long harbored doubts about U.S. intentions toward Hanoi. And this apprehension, also reflected among his factional allies within the Communist Party, is the last obstacle to a quasi-alliance between Vietnam and its foe of 40-odd years ago.

Those doubts are rooted in Trong’s ideological leanings as an expert in Marxism–Leninism, which disposes him to be wary of democratic nations and their motives and has led him to suspect Washington of having bad intentions toward the Hanoi regime. Over the years, Trong and his allies have promoted an image of the United States as evil and inattentive to Hanoi’s needs. Even though—given the factional cleavage behind the Vietnamese party’s facade of unity—it’s the progressives (relatively speaking) aligned with Prime Minister Nguyen Tan Dung who seem to have the better answers to Vietnam’s problems, Trong and other conservatives still command the ruling party’s institutions. They can therefore frustrate reform initiatives that they don’t like. They are also the custodians of the negative narrative against the United States.

Vietnam's Communist Party's General Secretary Nguyen Phu Trong walks past the guard of honour, December 20, 2014.

Forty years after the fall of Saigon, that narrative still governs party doctrine. Officers of Vietnam’s internal security agencies can hardly string together a paragraph about the United States that doesn’t include references to “foiling the plots of the enemy” against the people’s socialist government. Party media frequently warn against the “peaceful change scenario,” the notion that Vietnamese civil society organizations (particularly those supported by Washington) are subversive and will trigger upheavals like the ones that overturned communism in Eastern Europe.

In this regard, Trong and his allies are out of step with their countrymen and even many party members. Vietnam’s citizens would rather see their nation aligned with the United States than with China. In the six years since Beijing began nibbling its way toward hegemony over the South China Sea—the same expanse that Vietnamese doggedly refer to as “our East Sea”—many of the party’s three million-plus members have also concluded that China is again, as often was the case throughout Vietnam’s relations with its northern neighbor, an existential threat.

To Trong and his allies, avoiding entanglement with China’s rivals while engaging Chinese counterparts at all levels of the government and ruling party structures has been the best way to placate Beijing. Their view is that U.S. interest in East Asia waxes and wanes depending on what else is preoccupying Washington, but “China is always there,” an uncomfortably large presence on Vietnam’s border.

  By addressing Vietnam’s real concerns, Obama may persuade Trong (and by extension, his factional allies) to believe that th­­e Americans can be reliable partners with compatible interests. Making nice with the Hanoi regime’s conservative faction could cement a path to the U.S.–Vietnam entente that has so far proven elusive.
That strategy has become an increasingly tough sell since Beijing laid claim to well over a million square miles of open sea, waters stretching south from the China coast almost to Singapore. Every dry season since 2009, China has backed its claim by flexing its military and paramilitary muscle in the South China Sea. When the annual monsoons come, however, China has shifted to talk mode.

Though Vietnamese party leaders regularly travel to Beijing, hoping to repair the “special bond” and “forge deeper understanding,” China’s behavior in recent years has caused even Trong and his ideological allies to lose heart. Reportedly, they were stunned by China’s deployment last year of a deep sea oil rig into waters that are properly Vietnam’s by any reasonable reading of the UN Convention on Law of the Sea. Not long afterward, Trong quietly let it be known that he wished to visit Washington.

Another party conservative, Minister of Public Security Tran Dai Quang, was in Washington in March, reportedly to prepare for Trong’s pending visit and polish his own foreign policy credentials ahead of the Party Congress in January 2016.

Then, in early June, Secretary of Defense Ashton Carter and his Vietnamese counterpart signed an agreement in Hanoi that will make it easier for Vietnam to navigate U.S. regulations on the procurement of military hardware. Given that it followed closely after the annual Shangri La conclave of Asian security chiefs, Carter’s brief visit signaled that U.S. and Vietnamese interests in the South China Sea are aligned.

U.S. Defense Secretary Ashton Carter talks to Vietnam's Defence Minister Phung Quang Thanh in Hanoi, June 1, 2015.

In particular, Vietnam wants China to stop challenging its sovereignty over oilfields and tiny islands off its coasts. The United States, Carter had insisted a day earlier in Singapore, wants “rising China” to play by the rules. Neither might nor past injuries, he explained, gave Beijing rights (to impede innocent passage, for example) to lands that it had never possessed in its imperial past; nor was it in any state’s interest to dismiss the dispute resolution framework created by international law.

China has certainly noticed these visits. When it learned of Trong’s pending trip to Washington, Beijing sent an almost immediate counter invitation to Trong, which he accepted. So, for four days in early April, Beijing rolled out the red carpet for Trong and his entourage. In the official accounts of their meetings, however, there was no hint that the talks produced any substantive results. There was simply a reiteration of the now-tired formula: Chinese leader Xi Jinping and Trong promised “joint efforts to control maritime disputes and safeguard peace and stability.”

Trong’s upcoming visit to Washington may prove more substantive. With a possibly momentous Party Congress next year, Vietnamese politics are in flux. So for Washington, it’s a good time to have a cordial dialogue with Trong. By addressing Vietnam’s real concerns, Obama may persuade Trong (and by extension, his factional allies) to believe that th­­e Americans can be reliable partners with compatible interests. Making nice with the Hanoi regime’s conservative faction could cement a path to the U.S.–Vietnam entente that has so far proven elusive.

David Brown | Foreign Affairs
Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ
Theo FB Lê Quốc Tuấn

Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

(Bài cũ đăng lại để mừng sinh nhật "bác")

Đầu tháng 9, 2010, nhân dịp ở trong nước tổ chức rầm rộ các buổi lễ tưởng niệm 40 năm ngày Hồ Chí Minh qua đời, tôi muốn viết một bài về ông, nhưng lại lười, cứ lần khân mãi. Sau đó, mở các tờ báo mạng ra, cứ gặp mãi những bài viết về ông Minh (tôi không thích gọi ông là ông Hồ, nghe nó vô duyên làm sao!) lại đâm bực.

Bực, khi đọc những bài lải nhải khen ngợi ông. Bực cả khi đọc những bài chửi bới ông nữa.

Hầu hết các bài khen tụng hay chửi bới ông Minh đều có điểm giống nhau: Chúng đều tập trung vào đời tư của ông. Lại là những khía cạnh nhí nhách nhất trong đời tư của ông.

Người chửi, chửi thậm tệ. Theo họ, ông Minh là một kẻ giả dối. Giả dối ở mọi mặt. Tự mình viết sách khen mình… khiêm tốn và tài giỏi rồi ký tên khác (Trần Dân Tiên) rồi bắt dân chúng học tập là một sự giả dối. Gặp chị ruột, bà Nguyễn Thị Thanh, người chị duy nhất còn sống sót sau mấy chục năm xa cách mà vẫn hờ hờ hững hững để giữ tiếng vô tư và chí công là một sự giả dối. Nhưng giả dối nhất là có vợ rồi, lại là vợ Tàu nữa (Tăng Tuyết Minh), mà cứ giấu biệt. Có bồ (Nông Thị Xuân) cũng giấu giấu giếm giếm như mèo giấu cứt. Cuối cùng, bồ bị đàn em hãm hại cũng không dám mở miệng cứu giúp hay can thiệp. Nghĩa là một kẻ vừa giả dối lại vừa tàn nhẫn và hèn hạ.

Người khen, khen ông biết quan tâm và hy sinh cho người khác. Quan tâm đến đời sống cơ cực của dân chúng: Mỗi bữa, ông ăn ít hơn một chút để dành mớ gạo thừa ấy cho “đồng bào”. Quan tâm đến giấc ngủ của từng người bộ đội: Nửa đêm dậy đi dém mùng cho từng người. Quan tâm đến nỗi khách phụ nữ đến thăm, ông hỏi ngay là có mắc đái không để ông chỉ nhà vệ sinh cho!

Trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh kể, nguyên văn:

"Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên Văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ, oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh."

Thực tình, tôi không quan tâm đến cả những lời khen lẫn những tiếng chê như thế.

Theo tôi, những chuyện ấy, ngay cả khi đúng sự thực, cũng không ảnh hưởng gì mấy đến vị thế của ông Minh với tư cách một chính khách và một lãnh tụ.

Một cái nhìn có tính chuyên nghiệp đòi hỏi chúng ta không được lẫn lộn giữa các phạm trù. Một ông thánh làm chính trị tồi thì cũng vẫn là một chính khách tồi. Ngược lại, một tên lưu manh làm chính trị giỏi, biết cách sử dụng quyền lực cho những mục tiêu lớn và tốt, thì cũng vẫn là một chính khách giỏi. Tôi thích dân Mỹ ở chỗ đó. Nhớ, trong thập niên 1990, họ, một mặt, lên án cái tật hay cởi quần bậy của Tổng thống Bill Clinton, nhưng mặt khác, lại ủng hộ các chính sách của ông, các chính sách, theo họ, có lợi cho nước Mỹ. Với họ, hai khía cạnh đời tư và công việc khác hẳn nhau.

Ở Việt Nam, chúng ta cứ hay lẫn lộn mọi thứ. Không phải chỉ với Hồ Chí Minh mà cả với Ngô Đình Diệm hay Bảo Đại trước đó nữa, người ta cũng hay tập trung vào đời tư mà rất ít khi quan tâm đến chính sách của họ, với tư cách là những nguyên thủ của một đất nước.

Trong khi đó, ở cương vị của họ, chính các chính sách mới là những yếu tố đáng bàn, thậm chí, là những yếu tố duy nhất đáng bàn vì chúng có ảnh hưởng đến cả hàng chục, thậm chí, hàng trăm triệu người, có khi từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ông Minh có nhịn ăn mỗi ngày vài chén cơm thì cũng chỉ nuôi được, may lắm, một con chó; nhưng nếu ông có chính sách kinh tế đúng đắn và hiệu quả thì cả hàng chục triệu người được tha hồ ăn no và ăn ngon. Ông có hàng tá bồ nhí thì cũng chỉ làm mấy chục người ấy khổ nhưng nếu ông có chính sách về gia đình và phụ nữ đúng đắn và có hiệu quả thì hàng chục triệu phụ nữ tránh được cảnh bị lợi dụng, lạm dụng và bạo hành. Ông có hỏi hết người này đến người khác có mắc tiêu mắc tiểu không để ông chỉ nhà vệ sinh cho thì cũng giải quyết được nhu cầu của một số người nhưng nếu ông có chính sách đúng đắn và có hiệu quả về xây dựng cơ sở hạ tầng và văn hoá tiếp dân thì không ở đâu, kể cả ở các văn phòng uỷ ban nhân dân từ trung ương xuống địa phương hay các tụ điểm công cộng, từ nhà ga đến bến xe, từ trường học đến công viên, dân chúng lại phải chịu cảnh nhịn đái nhịn ỉa hay phải chịu đựng mùi hôi thối đến kinh người như họ từng chịu đựng cả trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.

Một nhà lãnh đạo không cần những cái tốt lặt vặt. Thậm chí có khi cái gọi là tốt ấy lại còn phản tác dụng. Tại Úc, nhiều chính khách bị dân chúng mất tín nhiệm chỉ vì quá tốt bụng. Đứng trước Quốc Hội, nghe báo cáo về sự khốn cùng của thổ dân, họ khóc; nghe tin thiên tai đâu đó, họ rơm rớm nước mắt. Dân chúng cảm động ư? Ừ, thì họ cũng cảm động. Nhưng khi được hỏi sự cảm động ấy có ảnh hưởng đến lá phiếu của họ trong các cuộc bầu cử hay không, phần lớn đều lắc đầu quầy quậy: Không. Nhiều người còn cho đó là sự yếu đuối không những không cần thiết mà còn có hại. Người ta chờ đợi ở lãnh tụ một cái đầu lạnh, lúc nào cũng bình tĩnh cân nhắc tính toán chuyện lợi hại gần xa chứ không cần những người quá dễ xúc động và chỉ biết phản ứng theo tình cảm như thế.

Bởi vậy, đánh giá một người làm chính trị, chúng ta chỉ cần tập trung vào chính sách của họ.

Với ông Minh, cũng vậy.

Trước hết, cần phân biệt ở ông Minh có hai khía cạnh: một nhà cách mạng và một nhà lãnh tụ.

Với tư cách nhà cách mạng, ông Minh có thể vấp phải một số sai lầm, nhưng nói chung, các chính sách ông đưa ra nếu không đúng đắn thì ít nhất cũng có hiệu quả. Nhờ đó, ông trở thành nhà cách mạng thành công nhất ở Việt Nam trong thế kỷ 20: Ông đánh đuổi được thực dân Pháp và ông giành được chính quyền vào tay đảng của ông.

Không đồng ý với ông, thậm chí, căm thù ông, người ta cũng không thể phủ nhận những thành công vang dội ấy. Ông đã thành công ở chỗ tất cả các nhà cách mạng khác, trước ông, từ các nhà Cần Vương đến các nhà Duy Tân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh và tất cả các nhà cách mạng quốc gia khác, đều thất bại.

Với tư cách một lãnh tụ, hơn nữa, lãnh tụ tối cao, vừa là Chủ tịch đảng vừa là Chủ tịch nước, ông Minh có những chính sách đúng và sai, những chính sách có hiệu quả đồng thời cũng có những chính sách hoàn toàn vô hiệu, hơn nữa, cực kỳ tai hại.

Đánh giá những chính sách ấy cần có công phu nghiên cứu và sự công tâm nhất định. Đó là công việc của giới sử học. Đã có nhiều sử gia làm điều đó. Một số người làm rất tốt. Nhưng công việc ấy sẽ còn kéo dài mãi. Nếu lịch sử là những gì luôn luôn được viết lại, việc đánh giá những chính khách lớn như ông Minh sẽ không bao giờ hoàn tất cả. Mỗi thời đại hay mỗi thế hệ, trong tương lai, sẽ lại tiếp tục tìm kiếm và đặt lại vấn đề về sự nghiệp của ông.

Trong bài này, tôi chỉ xin góp một ý nhỏ: Nói đến chính sách, cần phân biệt chính sách có tính giai đoạn và chính sách có tính dài hạn.

Trong số các chính sách dài hạn, chính sách quan trọng và căn bản nhất là chính sách liên quan đến thể chế.

Trong vấn đề thể chế, có hai khía cạnh quan trọng và căn bản nhất: ý thức hệ và cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước.

Về phương diện ý thức hệ, ông Minh chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một lựa chọn có tính lịch sử; và vì có tính lịch sử, nó vừa là trách nhiệm của ông vừa không thuộc trách nhiệm của ông.

Nhưng việc lựa chọn cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước thì hoàn toàn nằm trong tay ông. Chính ông là người quyết định nó, xây dựng nó và điều hành nó một thời gian dài. Có thể nói cái cơ chế ấy hoàn toàn là sản phẩm của ông. Là đứa con của ông.

Cái cơ chế ấy như thế nào?

Thời gian đã đủ dài để người ta nhận ra tất cả các khuyết điểm của nó. Trong đó, khuyết điểm đầu tiên là nó quá cứng nhắc, làm tê liệt hết mọi khả năng sáng tạo của ngay cả những người sáng suốt, nhiệt tình và nhiều quyền thế nhất.

Nghe nói, lúc còn tại chức, Phạm Văn Đồng thường than thở là trên thế giới không có ai làm Thủ tướng lâu như ông, và cũng không có ai làm Thủ tướng mà bất lực như ông.

Lại cũng nghe nói, trong một chuyến công du sang Úc cách đây khoảng trên dưới mười năm, Phan Văn Khải, lúc ấy đang là Thủ tướng, giữa một buổi họp mặt với giới trí thức Việt kiều, kể, đại khái, là: “Nhiều vị lãnh đạo Tây phương cứ hay nói về Việt Nam thế này thế nọ. Nhưng cứ cho họ làm Thủ tướng ở Việt Nam thử xem họ làm sao. Có khi họ làm chưa tới một ngày đã phải chạy làng rồi. Việt Nam mình nó phức tạp lắm chứ đâu đơn giản như họ tưởng. Ở Việt Nam đâu phải là Thủ tướng thì có thể làm được mọi việc!”

Lại cũng nghe nói nữa, vào những năm cuối đời, tuy ông Minh vẫn còn tại vị, nhưng thực quyền thì đã lọt hết vào tay của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Ông muốn làm nhiều chuyện nhưng đành bất lực. Tôi chẳng biết lời đồn ấy thực hư thế nào. Nhưng nếu đúng, ông Minh đã bị chính cái guồng máy ông lập ra nghiền nát; ông đã bị chính đứa con ông sinh ra quay lại ăn thịt ông.

Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái.

Cái Ác, cái Tham và cái Ngu thì ở đâu cũng có. Không có một lãnh tụ nào có thể loại trừ hay tiêu diệt chúng hết được. Nhưng trong một cơ chế tốt, chúng luôn luôn bị kiềm chế; nếu có bộc lộ, chỉ bộc lộ một cách rụt rè và lén lút; và vì rụt rè và lén lút nên không thể trở thành phổ biến, hơn nữa, lúc nào chúng cũng đối diện với nguy cơ bị phát hiện và bị trừng phạt.

Trong cái cơ chế chính quyền do ông Minh sáng lập, không có những sự kiềm chế và kiểm soát. Cấp lớn có cái Ác, cái Tham và cái Ngu lớn. Cấp nhỏ thì có cái Ác, cái Tham và cái Ngu nhỏ. Ở đâu chúng cũng nghênh ngang hoành hành được. Dân chúng không những bị bịt miệng mà còn bịbịt cả tai nữa.

Bởi vậy, bất cứ cái Ác, cái Tham và cái Ngu nào ở Việt Nam lâu nay cũng đều có một phần trách nhiệm của ông Minh.

Người ta hay hỏi: Liệu ông Minh có biết những người bị giết oan trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950 không? Có biết những vụ trù dập dã man đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm không? Có biết các vụ giết người tập thể ở Huế trong trận Mậu Thân không?

Với tôi, đó là những câu hỏi vớ vẩn. Biết hay không biết, chúng cũng thuộc về trách nhiệm của ông Minh. Biết, ông có tội. Không biết, ông có lỗi. Khi cái lỗi gây thành tội ác: Cái lỗi trở thành cái tội.

Trong bất cứ một hành vi tham nhũng công khai nào, bất cứ một hành động chà đạp nhân quyền và dân chủ nào ở Việt Nam hiện nay, cho dù được thực hiện bởi một tên công an cấp phường, cấp xã, cũng đều có bàn tay ông Minh trong đó.

Ông Minh đã chết lâu rồi nhưng cái cơ chế ông tạo ra vẫn còn đó. Nó còn đó và nó tiếp tục tạo cơ hội và cung cấp phương tiện cho những sự tàn ác, tham lam và ngu xuẩn. Để cho chúng tha hồ hoành hành và tàn phá đất nước, cái đất nước mà ông bỏ gần cả đời để dành lại từ trong tay thực dân Pháp.

Đứng trước cái di sản tệ hại khổng lồ ấy, những chuyện ông còn tân hay có vợ, chuyện ông nhịn ăn để đồng cam cộng khổ với dân chúng hay lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc lá của Mỹ, chuyện ông có nung gạch để tránh cái rét ở Paris lúc còn trẻ hay không… chỉ là những chuyện tầm phào.

Hết sức tầm phào.

(Bài này đã đăng trên Nguyễn Hưng Quốc blog trên đài VOA; sau, in trong cuốn Phản tỉnh và Phản biện do Văn Mới xuất bản 2012 và Người Việt tái bản 2013)

Nguyễn Hưng Quốc
Theo FB Nguyễn Hưng Quốc
Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt

“Đa phần là ông Phùng Quang Thanh đang bị khống chế ở một nơi bí mật nào đó. Ông PQT sẽ xuất hiện đứng hay nằm nó lệ thuộc vào việc ông có chấp nhận tương nhượng hay không, vì ở tư thế của kẻ khống chế ông, họ sẽ hưởng lợi chính trị nhiều hơn nếu ông còn sống nhưng vô quyền, ông chết là một trung sách cho họ, hạ sách là ông sống và vẫn nắm thực quyền quân đội”.

Sáng ngày 1/7/2015 tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Hà Nội, Ban Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng đã tổ chức khai mạc trọng thể Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ IX của Bộ Quốc phòng, một trong những Đại hội điểm của cả nước, được tổ chức 5 năm một lần với hơn 700 đại biểu tham dự.

Đến dự Đại hội có các ông: Nguyễn Tấn Dũng (UVBCT, Thủ tướng), Lê Khả Phiêu (nguyên TBT), Đại tướng Phạm Văn Trà, (nguyên UVBCT, nguyên Bộ trưởng QP), Thượng tướng Phạm Thanh Ngân (nguyên UVBCT, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Thượng tướng Ngô Xuân Lịch (Bí thư TU Đảng, UV Thường vụ Quân ủy TU, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ (UVTU Đảng, UV Thường vụ Quân ủy TU, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ QP), Thượng tướng Nguyễn Thành Cung (UVTU Đảng, UV Thường vụ Quân ủy TU, Thứ trưởng Bộ QP), Trương Hòa Bình (UVTU Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao), Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (Thứ trưởng Bộ QP)…


Vắng mặt trong buổi lễ quan trọng này: TBT Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, lãnh đạo Hội đồng Thi đua-Khen thưởng TU và một số chính khách, tướng lãnh khác.

Nhận Xét: Đây là một sinh hoạt rất quan trọng 5 năm một lần của quân đội và do chính Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng đứng ra tổ chức, tức cơ chế Đảng, nhưng lại vắng mặt ông Tổng Bí Thư và ông Bộ Trưởng Quốc Phòng, cho thấy cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và bắt quân đội phải ưu tiên trung thành với Đảng đã tan rã, nhất là trước một thực tế Việt Nam đang bị xâm lược và lãnh đạo quân đội lâu nay quá quỵ luỵ với kẻ xâm lược.

Với sự thông qua của Quốc Hội hôm 20/6/2015 Điều 28 Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi), để bổ sung 2 thẩm quyền cho thủ tướng, cho phép thủ tướng điền khuyết bổ trưởng trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, điều này hổ trợ cho ông Dũng tính chính đáng để ngồi chủ toạ ĐHTĐQT 2015 năm nay. Trong ĐHTĐQT năm 2010, người chủ toạ khai mạc đại hội là Bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh.


Sự vắng mặt hai nhân vật nồng cốt nhất, có quyền quyết định tối hậu trong việc vận dụng sức mạnh cơ bắp (Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh) cho thấy đang có sự chuyển đổi quyền lực, kể cả cấu trúc của quyền lực. Lãnh đạo quân đội lâu nay nằm trong tay Đảng đang chuyển về người đứng đầu cơ quan hành pháp của chính phủ. Vai trò của quân uỷ trung ương (lệ thuộc Đảng) sẽ từ từ nhường chổ cho vai trò của một hội đồng an ninh quốc gia hay tương tự như vậy (lệ thuộc Chính Phủ) để vận dụng sức mạnh quân đội. Đây có thể là cách để thoát ra khỏi nghĩa vụ quốc tế của các đảng cộng sản anh em, tức sự vâng lời của CS đàn em.


Đây cũng là một tín hiệu của sự thay đổi chính sách ngoại giao quốc phòng của VN. Những chỉ dấu cho thấy là sự quỵ luỵ TQ đã đến giới hạn và cần phải có một chính sách mới. Chưa ai biết là chính sách mới sẽ như thế nào, nhưng có thể mường tượng được rằng nó có thể đi vào thời kỳ sử dụng các định chế toà án quốc tế và sự thể hiện cương quyết hơn trong vùng nước chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế. Nó cũng có thể được hiểu là nếu TQ tìm cách sấn tới phong toả Trường Sa để đuổi Phi Luật Tân và VN để ‘một ra không trở lại’ thì chiến tranh có thể xảy ra.

Đa phần là ông Phùng Quang Thanh đang bị khống chế ở một nơi bí mật nào đó. Ông PQT sẽ xuất hiện đứng hay nằm nó lệ thuộc vào việc ông có chấp nhận tương nhượng hay không, vì ở tư thế của kẻ khống chế ông, họ sẽ hưởng lợi chính trị nhiều hơn nếu ông còn sống nhưng vô quyền, ông chết là một trung sách cho họ, hạ sách là ông sống và vẫn nắm thực quyền quân đội.

Ông Putin mất tích 10 ngày hồi tháng Ba 2015, sau khi xuất hiện ông nói “cuộc đời thì nhàm chán nếu không có tin đồn” (life is boring without gossip) nhưng ông đã thay đổi hẳn, không còn hung hăng đe doạ thế giới như trước nữa, nhất là đe doạ dùng bom nguyên tử, làm cho chính những người như Chánh văn phòng điện Cẩm Linh Sergei Ivanov và Chủ tịch Hội đồng An ninh Nicolai Patryushev phải làm một điều gì để kiềm chế ông lại.

Qua những gì đã xảy ra trong hơn 10 ngày qua và huê dạng của Đại hội Thi đua Quyết thắng hôm 1/7, ta có thể nói đây là một cuộc đảo chánh bỏ túi (mini) trong quân đội, nhưng nó lại có một tác động lớn trên cả hai lãnh vực: chính sách ngoại giao quốc phòng và cấu trúc quyền lực của các định chế. Điểm tích cực là VN lâu nay ở trong trạng thái tỉnh (status quo) đã chuyển qua động tính, vấn đề kế tiếp sẽ là các động tính này có hướng VN về phía tốt nhất cho sự vùng lên của dân tộc hay không.

Lê Minh Nguyên
Ba Sàm
 
Top ↑ Copyright © 2011. Tiếng Chim Việt - All Rights Reserved
Welcome to Tiếng Chim Việt